PDA

View Full Version : Trà Giang - NSND



-Lily-
13-03-2008, 06:01 PM
NSND Trà Giang:
“Hấp dẫn nhất khi đứng trước
ống kính”

----------------------
http://www.vnmedia.vn
Cập nhật lúc 14h38" , ngày 13/03/2008
Thiên Lam
--------------

“Với điện ảnh, việc đứng trước ống kính là hấp dẫn nhất nên khi không còn vai diễn thích hợp nữa, tôi trở về với góc nhìn của một khán giả, luôn dõi theo điện ảnh”, NSND Trà Giang chia sẻ khi được vinh danh NS có nhiều cống hiến cho điện ảnh tại đêm trao giải Cánh Diều Vàng 2007.

Đã hơn 10 năm không còn xuất hiện trước ống kính, có phải những vai diễn đã không còn hấp dẫn chị?

Tôi vẫn là người của điện ảnh, luôn quan tâm tới điện ảnh nhưng đứng trước ống kính thì không còn hợp nữa. Cũng có nhiều lời mời dành cho tôi nhưng khi đọc kịch bản vai đó không gây cho tôi cảm xúc gì và tôi không thấy yêu nhân vật đó. Có thể vai đó không hợp với tôi hoặc những vai mà tôi yêu thích nhất như ngày xưa đã không còn. Với điện ảnh, việc đứng trước ống kính là hấp dẫn nhất nên khi không còn vai diễn nữa, tôi trở về với góc nhìn của một khán giả, luôn dõi theo điện ảnh.

Lớp diễn viên trẻ hiện nay có nhiều cơ hội hơn thời của chị nhưng có vẻ như phim chẳng đủ làm rung động người xem và kéo khán giả gần hơn với điện ảnh. Chị nghĩ thế nào về lớp diễn viên trẻ?

Ngày xưa khi nhận vai diễn trong “Vĩ tuyến 17 ngày và đêm”, ngoài đọc kịch bản, tôi dành nhiều thời gian đi tìm hiểu để hình dung đúng cuộc sống nhân vật trong thời bị chia cắt hai miền. Thậm chí tôi còn phải đọc những tác phẩm nói về cuộc sống người dân trong Nam thế nào và tìm hiểu những nhân vật khác xung quanh đi theo trục phát triển vai của mình. Thời đó, một năm chúng tôi mới may ra nhận một phim nên tập trung tư duy rất cao. Còn các bạn trẻ bây giờ có nhiều cơ hội hơn, làm nhiều việc cùng một lúc mà việc nào cũng muốn nổi tiếng thành ra lại không có thời gian đào sâu nghề của mình.

Tôi thấy các em dễ dãi quá, nhiều khi ra hiện trường các diễn viên còn chưa đọc kịch bản kỹ mà có khi đạo diễn còn xé tờ kịch bản đó cho diễn viên học thuộc hoặc có người ở ngoài đứng nhắc. Không có mối giao lưu giữa nhân vật với bản thân thì khó lòng sống trong nhân vật. Điện ảnh bây giờ phải có quy định đòi hỏi cao sự nghiêm túc với người làm nghề thì mới thoát ra được cảnh đó. Điện ảnh không gây sự xúc động cho người xem nên hiện nay cũng có nhiều người giỏi, làm được nhiều phim nhưng điện ảnh đến với khán giả không nhiều như ngày xưa.

Tôi có tham gia vào những khoá dạy diễn viên, nhưng thấy các em hầu như không chú tâm. Cho cơ hội để làm nghề trực tiếp thì không làm. Nên tôi cảm thấy nản không còn hứng thú với việc truyền nghề nữa.

Hiện nay ngoài những khoá học ngắn hạn, chúng ta gần như chưa có một trường đạo tạo chính thức nào cho diễn viên điện ảnh?

Ngày xưa chúng ta có chia đào tạo riêng cho điện ảnh và kịch. Nhưng hiện giờ chúng ta không làm được điều đó. Chúng ta nên có giờ dạy riêng cho những người đóng trước ống kính và người đứng trên sân khấu, tính chất nó khác nhau nhiều. Sân khấu thì mang nặng tính khoa trương, ước lệ trong khi đó điện ảnh thì như cuộc sống đời thường, tự xúc động dâng lên chứ không cần phải vận dụng thủ thuật nào cả. Nếu trường không đào tạo được thì đạo diễn phải làm việc đó để họ không mang tính “kịch” vào trong diễn xuất.

Chị có dành sự ưu ái đặc biệt nào của mình với lớp diễn viên trẻ hiện tại?

Những cái tên như đạo diễn Thanh Vân, diễn viên Hồng Ánh, Ngọc Hiệp, Đỗ Hải Yến, Ngô Thanh Vân... thực sự là những gương mặt điện ảnh mà tôi thấy tin tưởng. Ngô Thanh Vân mặc dù là một cô gái chân dài nhưng cô ấy diễn rất điện ảnh, rất gần điện ảnh. Cô ấy không mang ca sĩ, mang thời trang vào điện ảnh và thể hiện được nhân vật không hề khoa trương.

Vẫn luôn dõi theo bước chân điện ảnh, chị nghĩ điện ảnh Việt Nam còn thiếu điều gì?

Tôi thấy điện ảnh còn phải làm nhiều thứ nhưng cái thiếu nhất và cần nhất là người chuyên nghề. Phải có diễn viên chuyên, quay phim. hoạ sỹ cũng chuyên... Những thành phần chủ yếu phải đào tạo lại.

Hơn 10 năm không còn gắn bó với điện ảnh một cách thường trực, chị tự tạo cho mình niềm vui trong cuộc sống như thế nào?

Tôi dành thời gian cho vẽ mặc dù chưa bao giờ nghĩ mình có thể cầm cọ. Cho đến hiện tại tôi đã vẽ được 8 năm và đã có nhiều triển lãm cá nhân, triển lãm với nhà thơ Phan Vũ, triển lãm với các hoạ sĩ nữ của thành phố...

Tôi vẫn thường trêu đùa là từ ngày tôi vớ được chuyện vẽ thì tôi cảm giác trời vẫn cho tôi niềm đam mê và hạnh phúc. Tiếp xúc và sống trong màu sắc khiến tôi trở về với chính mình, sống cho chính mình và truyền vào màu sắc. Tôi đã vẽ nhiều tranh tĩnh vật, phong cảnh và cái đích của tôi là vẽ chân dung các nhân vật mà tôi đã từng đóng. Hạnh phúc này thật bất tận.

Xin cảm ơn NSND Trà Giang!

-Lily-
28-04-2008, 09:45 AM
NSND Trà Giang
vẫn mơ giấc mơ điện ảnh

-----------------------
http://tintuconline.vietnamnet.vn
Thứ sáu, 25/4/2008, 14:19 GMT+7
Theo Hải Huyền
http://tintuconline.vietnamnet.vn/Library/myImages/@logo/DatViet.gif
---------------

Nữ nghệ sĩ mơ một ngày âm nhạc Việt Nam chuyển mình, để những nghệ sĩ theo dòng nhạc hàn lâm có đất sống, và những tài năng sẽ không chọn cách sống xa quê hương.

Sống với mẹ già trong căn nhà khá rộng và đẹp tại trung tâm thành phố, nữ diễn viên tài sắc năm xưa vẫn giữ được nét mặn mà, đôn hậu.

Trà Giang là người gốc Nam Bộ, 12 tuổi chị theo gia đình tập kết ra Bắc, vì vậy mà “tuổi thơ và sự nghiệp của tôi đã gắn với vùng đất nghĩa tình này”. Thừa hưởng niềm đam mê nghệ thuật từ cha - đạo diễn sân khấu Nguyễn Văn Khánh - Trà Giang thi vào khóa diễn viên điện ảnh đầu tiên của điện ảnh Việt Nam.

Ngày đó Trà Giang không nghĩ mình sẽ trở thành “con chim đầu đàn” của một thế hệ diễn viên sau này. Khi ấy, được nhận một vai diễn là hạnh phúc lắm, vì một năm nhiều nhất cũng chỉ sản xuất 3 đến 4 phim.

Nhưng số phận ưu ái hơn với Trà Giang. Đến chị cũng không hiểu vì sao các đạo diễn thích mời mình, mà toàn vai chính dù trong số bạn bè cùng lớp nhiều gương mặt mỹ miều hơn. Chính vì vậy Trà Giang không bỏ lỡ cơ hội nào. “Tôi để hết tình yêu và sự say mê vào vai diễn”, chị luôn làm việc với tinh thần đáng nể phục như thế.

Vai diễn đầu tiên của Trà Giang là một vai quần chúng trong phim Vợ chồng A Phủ. Ngày ấy chị và bạn bè trong lớp diễn viên phải “cùng ăn cùng ở” với người dân bản xứ, nhưng khi lên phim thì “không nhìn rõ mặt mình đâu cả”. Tài diễn xuất của Trà Giang chỉ chớm nở từ vai Kiên trong phim Một ngày đầu thu, dù đây không phải là một vai chính.

Năm 1962, đạo diễn Phạm Kỳ Nam có ý định chuyển thể truyện ngắn Chuyện ở bệnh viện của nhà văn Bùi Đức ái thành phim. Ông phải đi khắp nơi chọn diễn viên. Tìm mãi chưa thấy, cho đến khi vị đạo diễn này xem bản nháp phim Một ngày đầu thu, và nhận ra không ai xứng đáng hơn Trà Giang nhận vai diễn chị Tư Hậu.

Vai diễn gây tiếng vang tiếp đó của Trà Giang là Dịu trong Vĩ tuyến 17 ngày và đêm, bộ phim mang chiều dài lịch sử. Để thực hiện tác phẩm, đạo diễn và tác giả kịch bản phải đạp xe vào tận Vĩnh Linh, gặp tử tù, du kích, tìm kiếm tư liệu, viết xong lại đọc cho họ nghe xem đã "thật" chưa.

Khác với cách diễn thiên về cảm xúc như chị Tư Hậu, vai Dịu gai góc và sắc cạnh hơn nhiều. Theo lời kể của NSND Trà Giang, đây là vai diễn khó bởi số phận và ý nghĩa lịch sử của nó. Vai Dịu mang lại cho Trà giang giải Nữ diễn viên chính xuất sắc trong LHP Quốc Tế tổ chức tại Mascow sau đó.

Đến nay, số lượng phim mà NSND Trà Giang tham gia đóng chỉ trên dưới 20 phim. So với những diễn viên thời buổi thương mại hóa điện ảnh thì con số đó không nhiều, nhưng cả những vai phụ của chị cũng để lại dấu ấn khó phai.

Năm 1990, Trà Giang vào Sài Gòn sinh sống. Từ đấy đến nay, chị không tham gia diễn xuất dù nhan sắc và tình yêu với điện ảnh chưa phai nhạt. Chị bảo mỗi lần ra thăm lại Hà Nội, đi trên phố người già hay con trẻ đều nhận ra Trà Giang, còn ở nơi đô hội này dường như ít người biết chị là một diễn viên nổi tiếng điện ảnh cách mạng Việt Nam.

"Mà nếu ai biết thì cũng chỉ biết vậy thôi, chứ mình đâu dám đòi hỏi ở họ một sự ngưỡng mộ như người dân Bắc ruột thịt", chị tâm sự.

Có lần phim Chị Tư Hậu chiếu ở Sài Gòn sau giải phóng, có người hỏi Trà Giang, sao ngày đó người Bắc lại có thể làm một bộ phim hay như thế về chiến tranh. Câu hỏi khiến Trà Giang nghĩ nhiều.

Câu hỏi hồn nhiên, nhưng biết làm sao được bởi sự khác biệt về suy nghĩ, tình yêu với cách mạng, về điện ảnh và những nghệ sĩ một thời sống chết với từng thước phim. Điều đó đồng nghĩa rằng Trà Giang không phải “ngôi sao” ở đất này. Và chị hài lòng với suy nghĩ ấy của khán giả phía Nam.

Một thời gian nữ nghệ sĩ về công tác tại Viện tư liệu phim Quốc Gia. Chị sống lặng lẽ, âm thầm. Đối với nghiệp diễn, được như chị là mãn nguyện lắm rồi. Những gì chị có cũng là giấc mơ mấy ai hoạt động nghề diễn đạt tới, nhưng Trà Giang vẫn hy vọng một vai diễn hay đợi mình phía trước để lại được bươn chải, được tắm gió tắm sương, đắm mình trong số phận nhân vật trên màn bạc.

“Ở tuổi này rồi mà nói còn mơ ước và phấn đấu để có vai diễn hay là điều khó tin. Tôi không dám nghĩ điều ấy trở thành hiện thực”, Trà Giang nói một cách nhẹ nhàng, như thể chị mới bước vào phim trường.

Điện ảnh, một thoáng thôi trở thành giấc mơ

Đến với hội họa, Trà Giang muốn thoả mãn lòng yêu nghệ thuật. Chị vẽ nhưng không bao giờ nghĩ mình là họa sĩ. Ngày mới học vẽ ở Hội mỹ thuật TP HCM, mỗi lần có gì mới, chị lại đem khoe chồng, nhạc sĩ Bích Ngọc lúc đó đang bị ung thư. Bích Ngọc nhìn tranh cười: em vẽ tranh để dọa người khác đấy à?

Chồng NSND Trà Giang cũng là tình yêu đầu tiên và duy nhất của chị. Trà Giang không phải người đa tình, với chị tình yêu chỉ có một. Ngày xưa chị đẹp, lại dịu dàng, người đàn ông nào gặp cũng mê, cũng yêu đắm đuối. Có thời gian, đàn ông trong đoàn làm phim ai cũng yêu chị, từ đạo diễn đến quay phim, họa sĩ.

Chị yêu Bích Ngọc vì cảm phục ý chí và nghị lực của anh. Hai người có với nhau một báu vật: cô con gái Bích Trà, nghệ sĩ piano nổi tiếng. Trong nhà, Trà Giang treo rất nhiều tranh chân dung con gái do chính chị vẽ. Muốn con được vẫy vùng ra biển lớn, Trà Giang cho con đi học nhạc ở nước ngoài, những mong nay mai cái tên Bích Trà sẽ vinh danh với đời.

Trà Giang không dám nghĩ bất chợt ngày nào đó, con gái bỗng nhiên quên hết khát khao, danh vọng để về sống bình yên bên mẹ khi bố đã bỏ hai mẹ con ra đi lâu thế. Chị chỉ dám mơ ngày nào đó, âm nhạc Việt Nam có bước chuyển mình để những nghệ sĩ theo dòng nhạc hàn lâm có đất sống, có khán giả biết thưởng thức, để những tài năng sẽ không chọn cách sống xa quê hương.

Lâm Ngữ Yên
18-12-2008, 04:04 PM
"Tôi chưa bao giờ cho mình là người có sắc đẹp"

---
Nguồn:http://netlife.com.vn/vn/nguoinoitieng/41628/index.aspx
Thứ năm, 18/12/2008, 14:48 GMT+7
Theo Trần Thị Trường - http://netlife.com.vn/Library/Images/@logo/VanNgheCongAn.gif
---------

“Từ trẻ tới nay, tôi chưa bao giờ cho mình là người có sắc đẹp, chỉ là một diễn viên ăn ảnh thôi... Và, có lẽ nhờ sự làm việc tận tâm của các đồng nghiệp, đạo diễn, nhà quay phim mà tôi trở nên đẹp trong lòng khán giả”, NSND Trà Giang chia sẻ.

NSND Trà Giang người Quảng Ngãi sinh năm 1942. Năm 14 tuổi theo cha tập kết ra Bắc, tốt nghiệp khoá 1 Trường Điện ảnh Việt Nam (1962). Với cặp mắt đen như nhung và cái nhìn hút hồn, chị nổi tiếng ngay khi tham gia phim đầu tiên "Những ngày đầu thu" của đạo diễn Huy Vân. Phim "Chị Tư Hậu" đoạt Huy chương Bạc tại Liên hoan phim Quốc tế tại Moskva 1963.

Đóng nhiều vai trong nhiều phim nổi tiếng: "Vĩ tuyến 17- ngày và đêm", "Ngày lễ Thánh", "Huyền thoại người mẹ", "Dòng sông hoa trắng". Nhớ đến Trà Giang là khán giả nhớ ngay đến vai Dịu, vai đoạt giải nữ diễn viên xuất sắc nhất trong Liên hoan phim quốc tế tại Moskva 1973...

Là con gái của NSƯT Nguyễn Văn Khánh, phu nhân của NSƯT - Giáo sư Bích Ngọc (violon) và là mẹ của nghệ sĩ dương cầm Bích Trà... Sau những ngày nghỉ hưu, dồn dập những thử thách (con đi xa, chồng đau bệnh rồi mất) tưởng chị sẽ sống trong cô quạnh với nỗi buồn và những tiếc nuối. Nhưng không.

- Người ta vẫn nói sắc đẹp và sự nổi tiếng là một cạm bẫy lớn, làm thế nào mà chị đã tránh được cạm bẫy này?”.

- “Từ trẻ tới nay, tôi chưa bao giờ cho mình là người có sắc đẹp, chỉ là một diễn viên ăn ảnh thôi... Và, có lẽ nhờ sự làm việc tận tâm của các đồng nghiệp, đạo diễn, nhà quay phim mà tôi trở nên đẹp trong lòng khán giả. Rồi, đương nhiên với nghề nghiệp tôi trở thành người của công chúng. Làm người của công chúng quả là khó.

Trước khi đóng phim, tôi thích cùng đi với diễn viên Tuệ Minh, Minh Đức, Bích Hồng vào chợ Đồng Xuân ăn quà, hay ra Cửa Nam ăn thịt bò khô, rồi ra vườn hoa Chi Lăng ăn kem... cho thoải mái. Có lần tôi đã "chơi" 10 que kem đậu xanh vào ngày lạnh nhất của Hà Nội ở vườn hoa mà chả sợ ai cả. Nhưng khi mọi người nhận ra Trà Giang, Minh Đức, Tuệ Minh trên phim nọ, phim kia thì tự mình hạn chế cái sự "ăn đường, ăn chợ". Quen đi, cũng không có gì là khó.

Song, người của công chúng cũng có cái sướng, đi đâu, làm gì, cũng được ưu ái. Thời bao cấp ở Hà Nội, mua gì cũng phải xếp hàng, cũng phải tem phiếu. Sau khi phim "Vĩ tuyến 17- ngày và đêm" chiếu ở Hà Nội, tôi đi mua thịt ở chợ Ngọc Hà, cô bán thịt đã cắt cho tôi miếng thịt ngon và nói: "Chị bồi dưỡng đi, em xem phim "Vĩ tuyến"… em thương chị lắm".

Tôi đặc biệt nhớ em Lan bán ở cửa hàng tạp hóa. Em đã mua cho con gái Bích Trà của tôi những chiếcáo len trẻ con - là hàng viện trợ của nước ngoài rất đẹp...

Và, tôi cũng không bao giờ quên những kỷ niệm mà khán giả dành cho tôi. Thời của chúng tôi là thời bao cấp, mọi người sống giản dị. Tôi chưa gặp phải cạm bẫy nào trong cuộc sống nên cũng không biết mình có khả năng tránh và đề phòng không”.

- Thường thì những người đàn bà nổi tiếng luôn đem về cho chính mình và cho gia đình sự chòng chành, bấp bênh…chí ít cũng là thiếu thời gian chăm sóc cái tổ ấm của mình. Trong suốt thời gian nổi tiếng, chị đã chia sẻ thời gian như thế nào cho nghệ thuật điện ảnh, cho tình yêu gia đình?

- Khi còn trẻ, việc nhận vai diễn trong phim, rồi đi quay ngoại cảnh, có khi phải xa Hà Nội vài tháng, ao ước lúc đó của tôi khi về tới Hà Nội là đi ăn kem, uống một cốc cà phê đá là thấy sung sướng lắm rồi. Nhưng khi có gia đình, rồi sinh con, việc xa gia đình, xa con là một sự đau đớn, chỉ mong sao các cảnh quay không bị hỏng, bộ phận in tráng ở nhà không làm xước, hỏng bản nháp để không phải đi đóng lại, để mau chóng được về sống dưới mái ấm gia đình, được ôm con, chăm sóc con...

Tôi nhớ lần đầu xa con là khi Bích Trà được 3 tháng tuổi, tôi được cử đi dự Liên hoan phim Moskva năm 1973 với phim "Vĩ tuyến 17 - ngày và đêm". Tôi định không đi nhưng ba tôi và anh Bích Ngọc động viên: Không phải dự Liên hoan phim là đi chơi, mà đi để nói về nhân vật của mình, về đất nước mình, về phim của mình...

Rồi những lần đi làm phim "Ngày lễ Thánh", "Mối tình đầu" tôi phải gửi con về nhà ông bà ngoại... Tôi phải ra đi trong nước mắt. Kể cả những lúc ấy, nghe tiếng trẻ con khóc tôi có cảm giác như tiếng khóc của con mình. Song, nghề nghiệp đòi hỏi mình phải có sự hy sinh ấy.

Tôi nghĩ sau này, lớn lên con cũng hiểu thôi…Nghệ sĩ chắc ai cũng thế cả, tôi cũng như nhiều nữ diễn viên khác, nhiều người phụ nữ khác đã phấn đấu cho công việc của mình và không quên nhiệm vụ làm mẹ…

- Sắc đẹp và sự nổi tiếng vừa có sức mạnh quyến rũ vừa có điểm yếu là bị cám dỗ và rất dễ xảy ra đổ vỡ hôn nhân nhưng với Trà Giang điều đó đã không xảy ra. Nhiều người lý giải rằng có lẽ bởi ngoài việc ý thức về vị trí "người của công chúng", chị còn say mê và ngưỡng mộ nghệ sĩ violon Bích Ngọc - chồng chị. Trong câu chuyện với mọi người chị thường nhắc đến anh.

- Bích Ngọc là người rất hiểu tôi, tạo điều kiện cho tôi tiến bộ. Nay dù đã đi xa anh vẫn còn giúp tôi, phù hộ cho tôi, chắc là anh đã phù hộ nhiều lắm, để vợ con anh như ngày hôm nay... Tôi biết ơn anh và tôi cũng biết ơn con tôi, Bích Trà là động lực để tôi sống tiếp…

- Không ít nghệ sĩ sau khi rời sân khấu, phim trường... đã rơi vào khủng hoảng tinh thần, còn đối với NSND Trà Giang thì sao?

- Năm 1990, vợ chồng tôi quyết định vào sống trong TP Hồ Chí Minh để được gần cha mẹ, anh em sau khi Bích Trà đi học ở Nga được gần 3 năm. Đó là quyết định khó khăn của chúng tôi sau 35 năm sống ở miền Bắc, sống ở Hà Nội. Tôi nhớ khi đó, Hãng Phim truyện Việt Nam định làm một tiệc chia tay, tôi đã từ chối với ý nghĩ tôi không chia tay với hãng phim, cũng như sẽ không chia tay với Hà Nội. Tôi coi như mình chỉ đi làm phim xa như bao lần đã từng đi xa khác rồi sẽ lại về.

Trên thực tế từ năm ấy tôi đã không còn đóng phim truyện nhựa nữa. Năm ấy tôi mới 48 tuổi... Tôi không nghĩ rằng mình lại dừng đóng phim vào tuổi ấy. Tôi cũng hụt hẫng trong mỗi ngày đi làm công việc theo giờ hành chính tại Trung tâm Nghiên cứu nghệ thuật và lưu trữ điện ảnh Việt Nam. Thời gian này tôi cũng từ chối nhiều lời mời đi làm phim vì cảm thấy những nhân vật ấy không thích hợp với tư duy nghệ thuật của mình...

Rồi cơ may lại đến với tôi khi tôi tìm thấy niềm đam mê với hội họa, y như lúc tôi 17 tuổi bước vào môi trường điện ảnh vậy. Tiếng nói của người diễn viên là hình tượng nhân vật mà người diễn viên ấy thể hiện. Tôi không đóng phim, không có vai của chính mình khác nào không còn tiếng nói, khác nào không còn sự sống, khác nào không tồn tại...

- Chị nói như được hồi sinh khi tiếp xúc với mầu sắc. Với nghệ sĩ, tình yêu và niềm đam mê thường thúc đẩy sáng tạo?

- Tôi đến với hội họa lúc đầu chỉ là sự tình cờ, chỉ để giết thời gian. Anh Bích Ngọc mất, với tôi là sự trống vắng khủng khiếp. Nhưng đam mê tình yêu nghệ thuật khiến tôi dường như sống lại. Với hội họa tôi bắt đầu cuộc sống mới, cho chính mình, cho những người thân, cho những người đã từng yêu mến mình và cho Bích Trà đang ở xa xôi.

- Là người liên tiếp 7 lần tham gia Hội đồng Giám khảo Cuộc thi Hoa hậu Việt Nam, dáng người mảnh mai, giọng nói dịu dàng, ăn mặc lịch thiệp, tác phong nhanh nhẹn, chị vẫn là hình ảnh, là tấm gương cho nhiều phụ nữ noi theo. Vậy hàng ngày thời gian biểu của chị như thế nào? Và để giữ được sức khỏe và nhan sắc như hiện nay, chị có bí quyết gì?

- Những ngày tháng 11 vừa qua tôi và các bạn trong nhóm vẽ đã làm được một việc, tự cảm thấy hạnh phúc - đó là tham gia một triển lãm từ thiện để giúp cho sinh viên nghèo hiếu học của tỉnh Quảng Ngãi - do Hội đồng hương Quảng Ngãi tổ chức. Tuy giúp chưa được nhiều nhưng nhờ có tranh mà tôi đã tham gia thường xuyên nhiều cuộc triển lãm từ thiện.

Trước đây, tôi không coi trọng rèn luyện sức khoẻ. Từ khi ngồi trước giá vẽ mỗi ngày 1 giờ tôi lại chăm chỉ tập thể dục. Có sức khoẻ mới có thể làm việc nhiều hơn cho nghệ thuật. Có sức khoẻ, tôi nhìn cuộc sống vui hơn, đẹp hơn và sống chân thành hơn với mọi người.

- Thập niên đầu của thế kỷ XXI đã đi qua, vậy mà thời gian vẫn lùi lại trước ý chí của một người phụ nữ. Và sắc đẹp của chị vẫn còn được nhắc đến trên những ống kính máy quay, trên màn ảnh nhỏ và trong lòng công chúng. Xin cảm ơn NSND Trà Giang về cuộc trò chuyện này.

Lâm Ngữ Yên
18-12-2008, 04:08 PM
http://img257.imageshack.us/img257/2531/tragiang3rv8.jpg (http://imageshack.us)

http://img209.imageshack.us/img209/9656/tragiangchong0zs6.jpg (http://imageshack.us)

http://img257.imageshack.us/img257/2674/tragiang4ot7.jpg (http://imageshack.us)

Lâm Ngữ Yên
30-12-2008, 03:02 PM
NSND Trà Giang: Mỗi vai diễn là một cuộc đời

---
Theo Đặc San Sức Sống Mới
Chuyên Mục Gặp Gỡ người nổi tiếng
-----


http://img150.imageshack.us/img150/2848/12bw7.jpg (http://imageshack.us)
[CLIP] (http://www.sucsongmoi.com.vn/khachmoi-giaitri/Gapgonguoinoitieng/nsndtragiangmoivaidienlamotcuocdoi/SSMTVShow_view)

NSND Trà Giang là một diễn viên điện ảnh nổi tiếng Việt Nam Bộ phim đầu tiên bà tham gia là phim Một ngày đầu thu (đạo diễn Huy Vân), còn bộ phim cuối cùng là Dòng sông hoa trắng (đạo diễn Trần Phương). Trà Giang cũng tham gia nhiều bộ phim nổi tiếng, đoạt nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế như Chị Tư Hậu (huy chương bạc Liên hoan phim Quốc Tế Moskva năm 1963), Vĩ tuyến 17 ngày và đêm (vai Dịu, đoạt giải diễn viên nữ xuất sắc nhất tại Liên hoan Phim Quốc tế Moskva năm 1973. Ấn tượng Trà Giang để lại trong lòng khán giả là khả năng diễn xuất nội tâm rất đặc sắc.

Bên cạnh điện ảnh, Trà Giang còn thử sức trong hội họa và bà đã có cuộc triển lãm tranh. Ngoài ra, bà còn là thành viên Hội đồng Giám khảo cuộc thi Hoa hậu Việt Nam trong nhiều năm liền.

Từ giã nghiệp diễn ở lứa tuổi ngũ tuần vì không còn tìm thấy những vai diễn khiến bà tâm đắc thế nhưng bà vẫn luôn quan tâm tới tình hình điện ảnh nước nhà và trong Liên hoan phim Cánh Diều Vàng năm 2007 bà đã được vinh danh “Thành tựu trọn đời” vì những cống hiến của mình cho điện ảnh Việt Nam.

Với câu chuyện về những vai diễn để đời của mình, NSND Trà Giang đã làm sống lại không khí làm phim sôi nổi trong những ngày đầu của điện ảnh Việt Nam
Sức Sống Mới

maruco_chan
30-12-2008, 05:13 PM
Trà Giang

nguồn:http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C3%A0_Giang

Trà Giang (sinh năm 1941 tại Quảng Ngãi) là một diễn viên điện ảnh nổi tiếng Việt Nam. Bộ phim đầu tiên bà tham gia là phim Một ngày đầu thu (đạo diễn Huy Vân), còn bộ phim cuối cùng là Dòng sông hoa trắng (đạo diễn Trần Phương). Trà Giang cũng tham gia nhiều bộ phim nổi tiếng, đoạt nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế như Chị Tư Hậu (huy chương bạc Liên hoan Phim Quốc tế Moskva năm 1963), Vĩ tuyến 17 ngày và đêm (vai Dịu, đoạt giải diễn viên nữ xuất sắc nhất tại Liên hoan Phim Quốc tế Moskva năm 1973)...

Bố của nghệ sỹ Trà Giang là NSƯT Nguyễn Văn Khánh[1]. Chồng của bà là NSƯT giáo sư âm nhạc Bích Ngọc. Hai vợ chồng có một người con gái cũng nổi tiếng trong lĩnh vực nghệ thuật là nghệ sĩ dương cầm Bích Trà.

Bên cạnh điện ảnh, Trà Giang còn thử sức trong hội họa và bà đã có triển lãm tranh vào năm 2004 tại Thành phố Hồ Chí Minh [2]. Ngoài ra, bà còn liên tiếp 7 lần là thành viên Hội đồng Giám khảo cuộc thi Hoa hậu Việt Nam.


[sửa] Các phim đã tham gia
Một ngày đầu thu
Chị Tư Hậu (1963)
Vĩ tuyến 17 ngày và đêm (1972)
Ngày lễ thánh
Huyền thoại người mẹ
Dòng sông hoa trắng (đạo diễn Trần Phương)

maruco_chan
30-12-2008, 05:21 PM
Trà Giang: Người đàn bà có vẻ đẹp xuyên thế kỷ

nguồn:http://old.netmode.com.vn/sao/2007/02/661181/
11:59' 04/02/2007 (GMT+7)


Sinh năm 1941 tại Quảng Ngãi, hồi nhỏ, Trà Giang mê nghệ thuật múa, 12 tuổi tập kết ra Bắc, theo lời khuyên của cha (NSƯT Nguyễn Văn Khánh). “Con rất ăn hình, con nên theo điện ảnh” - đó là câu nói của người cha khiêm tốn về con. Ngoài đời, Trà Giang còn đẹp hơn trong mọi khuôn hình của ống kính.

Nổi tiếng trong “thế giới điện ảnh” từ những năm 59-60 của thế kỷ trước, với các vai chính gây ấn tượng sâu sắc trong các phim Chung một dòng sông (bộ phim truyện đầu tiên của nước ta - Giải Bông sen vàng (BSV) tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 2), Mối tình đầu, Chị Tư Hậu (Giải BSV Việt Nam và Huy chương Bạc LHP Quốc tế tại Mátxcơva năm 1963 cho phim), Ngày lễ Thánh, Huyền thoại mẹ, Vĩ tuyến 17 ngày và đêm (Giải TNCCM LHPQT tại Liên Xô 1973 cho phim và giải nữ diễn viên xuất sắc nhất cho vai Dịu - Trà Giang đóng), Trà Giang đã nhận danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân lúc chưa tới tuổi 50 nhờ những cống hiến to lớn của mình cho nền điện ảnh nước nhà.

Một ngày với Trà Giang (ở tuổi 65)
5 giờ sáng chị đã thức dậy, làm một vài động tác nhẹ nhàng để cơ thể bắt đầu vận động một ngày mới, tự mátxa mặt bằng đôi tay ấm nóng (xát mạnh vào nhau tạo nhiệt) rồi bước ra khỏi nhà, hít thở khí trời ngoài công viên buổi sớm với bài tập thể dục hằng ngày.

Đến 6 giờ 30 ngồi vào máy tính, lên mạng để “gặp” con gái Bích Trà. Hai mẹ con “chát” với nhau, nhìn nhau qua webcam, nói đủ thứ chuyện, nâng niu âu yếm nhau như ngày Trà còn bé tí. Chị bảo cứ mỗi sáng nghe tiếng con nói, nhìn gương mặt thân yêu của con là cảm giác được uống liều thuốc tiên vào dạ.

Mỗi ngày lại mong một ngày mới, đôi khi chỉ là câu chuyện buổi sáng như vậy. Sức khoẻ sau khi mổ tụy, tưởng sẽ gầy gò ốm yếu như hôm ra viện (cách đây 3 năm) vậy mà bây giờ dường như còn khoẻ hơn, sức làm việc lâu hơn. Rời bàn vi tính, chị bắt đầu trở về phòng vẽ. Hoặc vẽ một mình, hoặc cùng với các bà bạn. Trưa ăn cơm với ba mẹ. Chị bảo chị là người có phúc nên ở tuổi này chị vẫn được ba mẹ cưng nựng, yêu chiều.

Buổi chiều, mấy cha con, chị em chơi bài tiến lên. Nhiều khi người này cố ý “ăn gian” để thua, để mua cho cuộc vui thêm vui. Giải trí như thế làm cho đầu óc tươi mới trở lại, tiếng cười làm cho sức sống tràn lên. Và tối đến, đôi khi đọc vài trang sách, xem bản nháp của phim, suy nghĩ nhân tình thế thái…

Hội họa

Ban đầu, chỉ vì không muốn xuất hiện trở lại trên phim trường, trong các cảnh quay, kịch bản nên Trà Giang nung nấu một thay đổi nào đó. Cách đây 7 năm, tình cờ trong lần đến chơi nhà bạn, chị Lê Thị Thoa, phu nhân tướng Trần Văn Trà, thấy chị Thoa nhiều tuổi mà vẫn học vẽ, say sưa vẽ về một thế giới nội tâm nào đó, rất hấp dẫn. Trà Giang học theo.

Học được 3 tháng (ở Hội Mỹ thuật TPHCM) thì nỗi buồn ập đến, chồng chị, Tiến sĩ - Giáo sư - Nghệ sĩ violon - Nghệ sĩ ưu tú Bích Ngọc mang bệnh qua đời (1999). Con gái Bích Trà tu nghiệp luôn sống ở xa, chị không biết làm gì hơn là gửi tâm tình lên giá vẽ.

Ban đầu nét vẽ đơn sơ, chỉ có màu là đẹp. Nhiều hoạ sĩ tên tuổi xem tranh Trà Giang, bảo chị được trời cho cái thẩm mỹ màu. Nhưng, lại vẫn là Trà Giang của điện ảnh ngày xưa, không chịu dừng ở mức cầm cọ chỉ để giải buồn, khuây khoả mà cái này gợi mở cái kia, cái trước đòi hỏi cái sau, màu gọi màu, bố cục gọi… một tầm khái quát.

Thế là, miệt mài mà vẫn hồn nhiên, suy tư sâu sắc mà vẫn mênh mang như thơ… 7 triển lãm chung với chị em, lần nào tranh cũng có người muốn sở hữu. Có thể ban đầu chỉ vì yêu tên tuổi một NSND nổi tiếng, nhưng ngày một nhiều hơn thì hẳn phải là sức quyến rũ của chính những gam màu ấy. Lần vừa rồi (27/7 – 3/8/2006 tại Lotus Đồng Khởi) triển lãm riêng của Trà Giang đã ra mắt công chúng với 30 bức khổ vừa.

Vẽ, để vơi đi nỗi buồn nhưng vẽ cũng là tìm thấy những tiềm ẩn trong bản thân, tìm thấy tình yêu với cuộc sống. Và vẽ con gái để con thấy mẹ đã “đọc” được tinh thần của con qua gương mặt người mà mẹ dấu yêu hằng ngày.

Bích Trà và mẹ

Bích Trà là người con gái duy nhất của cặp vợ chồng nổi tiếng Bích Ngọc - Trà Giang. Khi mang thai con, Trà Giang còn phải đi đóng phim, quay thêm một cảnh bù vào cảnh quay trước chưa vừa ý (phim Vĩ tuyến 17 ngày và đêm). Nhiều cảnh quay cực kỳ nguy hiểm, vất vả, cực nhọc cho người có bầu 4 tháng lần đầu.

Cô con gái lớn lên trong tiếng vilon của cha, tiếng nựng ru giọng Quảng Ngãi dịu dàng của mẹ. Học Nhạc viện Hà Nội rồi sang học ở Nga khi mới 14 tuổi. Đến bây giờ, danh mục biểu diễn của Bích Trà đã trải rộng từ các tác giả cổ điển, phổ biến như: Bach, Schubert, Mozart, Beethoven, Prokfiev, Ravel, Shostakovic đến các tác phẩm đương đại của thế giới hôm nay.

Bích Trà mỗi ngày mỗi học, biển học theo cô là vô bờ và một nghệ sĩ không thể không cập nhật. Đã tốt nghiệp cao học, Bích Trà vẫn vừa học vừa đi biểu diễn với nhiều chương trình âm nhạc quốc tế. Nhưng mỗi năm, Bích Trà ít nhất một lần về Việt Nam với mẹ.

Với mẹ, nỗi nhớ tràn đầy tâm hồn cô. Nhớ mẹ, nhớ ông bà, cô dì chú bác và nhớ Hà Nội, Sài Gòn. Mỗi lần về cũng là mỗi lần được Nhạc viện Hà Nội, Nhạc viện TPHCM hay các dàn nhạc trong nước và quốc tế mời diễn.

Diễn, sống với mẹ, với quê hương của mình là thời khoá biểu được lên sẵn trong cuộc đời nghệ sĩ piano nổi tiếng Bích Trà. Cả hai mẹ con đều biết, giá trị cuộc sống không chỉ là vinh quang nghệ thuật mà cả nỗi thương yêu, sự gắn bó con người với nhau.

Tết này, Bích Trà và mẹ Trà Giang không ăn Tết cùng nhau ở Sài Gòn, mà sẽ cùng ăn Tết trên... camera. Năm 2006, Bích Trà đã 2 lần về với mẹ, về với những cuộc trình diễn đang được chờ đợi. Lần thứ 2 (19/7) trùng với dịp triển lãm Hè về của mẹ.

Trà Giang bảo “Trà là cảm hứng nghệ thuật của tôi”, còn Bích Trà thì nói “Mẹ là tất cả”.

KV

maruco_chan
30-12-2008, 05:25 PM
Trà Giang nghĩ và vẽ

nguồn:http://old.netmode.com.vn/sao/2006/06/584167/
15:11' 23/06/2006 (GMT+7)

Chị đến với hội họa là một sự lựa chọn mới "cho những tháng ngày sau này" - như cách nói của chị - nhưng chưa bao giờ nghĩ sẽ bước vào con đường chuyên nghiệp. Ngay cả bây giờ, sau hơn 7 năm cầm cọ, sau vài cuộc triển lãm chung với bạn bè, bán không ít tranh và để tặng bạn bè hay làm từ thiện thì còn nhiều hơn thế...

Chị mê hội họa từ những ngày đầu đi đóng phim. Đúng hơn là chị mê màu sắc, mê cảnh đẹp những nơi mình đi qua, thích nhìn những gương mặt người với đủ các sắc thái biểu cảm.

Và chị muốn ghi lại tất cả những hình ảnh ấy bằng hội họa. Không có nền tảng gì về mỹ thuật, chị theo học với các thầy Mai Trực (trường Đại học Mỹ thuật TP.HCM) và thầy Quang Luân (Hội Mỹ thuật TP). Rồi vẽ.

Chị vẽ những gì chị đã nhìn thấy, vẽ theo những bức ảnh chị đã chụp và lưu giữ cẩn thận, vẽ bằng ký ức... Chính thứ cảm xúc đã được lắng lại qua bao nhiêu năm tháng của đời người ấy khiến tranh của chị không có cái tươi mới nhưng đầy chiều sâu của sự trải nghiệm.

Dường như chị rất thích trời mây. Mây tầng tầng lớp lớp, mây cuồn cuộn, mây kỳ ảo dưới những tia sáng của mặt trời khiến mọi thứ đều như không thật, cả người phụ nữ chông chênh trên đường, cả cái làng nhỏ xinh đẹp của vùng Kim Bôi, Hòa Bình, cả những con thuyền đang neo đậu...

Rồi có khi khắp nơi lại bàng bạc một thứ "sương khói mờ nhân ảnh", nó gợi cho người xem những suy nghĩ mơ hồ về một thế giới xa xăm nào đó, thế giới của những linh cảm. Tranh của chị hầu như chỉ là phong cảnh, tĩnh vật và bây giờ thì học vẽ người. Cũng đã có vài bức chân dung nhưng chị chưa ưng ý...

chị, chỉ có tình yêu hội họa gắn họ lại với nhau, rồi trở thành nơi để các chị chia sẽ những buồn vui.

Từ ngày anh mất, cứ sáng Chủ nhật mỗi tuần chị lại đi thăm mộ anh, suốt 7 năm nay lịch trình của chị không thay đổi. Bạn bè khuyên chị, đừng đến thường xuyên như vậy anh sẽ không siêu thoát được nhưng chị thì nghĩ ngược lại, chị cần có anh, ngay cả khi anh đã mất và anh cũng luôn muốn ở bên cạnh gia đình để chăm sóc, che chở cho chị và cô con gái Bích Trà đang ở xa.

Cái cảm giác luôn có anh bên cạnh khiến chị yên tâm hơn, bệnh gai cột sống đang hành hạ chị cũng đỡ đi, một ngày mới bắt đầu bình yên giữa những người thân, không có khổ đau, mất mát.

- Thành công trong điện ảnh với những vai diễn để đời, trong hội họa chị cũng đã được các đồng nghiệp, người xem yêu quý, vậy có điều gì chị ao ước mà chưa làm được?

- "Một vai diễn với những giằng xé nội tâm, một nhân vật không phải có tính cách được khẳng định ngay từ đầu như những vai tôi đã từng diễn. Đây là điều tôi ước ao từ khi mới bắt đầu đóng phim nhưng đến tận bây giờ vẫn chưa có được. Nhưng với điện ảnh, có lẽ cơ hội của tôi đã hết. Còn hội họa là hiện tại và tương lai của tôi.

Thể hiện được những - gương - mặt - người trong tranh cũng là điều tôi ao ước. Đó không phải là những chân dung đẹp, gương mặt trái xoan hay mũi cao dọc dừa. Tôi không biết phải diễn tả như thế nào, nhưng tôi muốn vẽ một chân dung mà đôi mắt nói lên được nhiều điều. Trong cả điện ảnh và hội họa, theo tôi nghĩ, một đôi mắt thể hiện được nội tâm là điều khó làm nhất."

(theo TGNS)

maruco_chan
30-12-2008, 05:33 PM
Trà Giang vẽ bằng kỷ niệm

nguồn:http://www.vnexpress.net/GL/Van-hoa/Guong-mat-Nghe-sy/2005/01/3B9DAF36/
Thứ tư, 26/1/2005, 08:52 GMT+7

Cho tới giờ này, có lẽ Trà Giang không nói "hội họa đã cứu tôi" nữa. Chị nói mình cầm bút vẽ vì muốn có những bức tranh đẹp. Chị Tư Hậu ngày nào thể hiện những suy tư của mình trong tranh để con cái hiểu rằng chị vẫn đang vui sống và làm việc.

Giang bảo chị già rồi. Chị đã không còn trẻ như xưa nhưng ở chị vẫn còn đó những nét xưa. Vẫn gương mặt đằm thắm, phúc hậu, nụ cười bừng sáng rạng rỡ rất “điện ảnh” của ngày nào. Trong triển lãm tranh của chị và họa sĩ Phan Vũ có những bức tranh với độ màu nóng, mạnh mẽ, nồng nhiệt của Phan Vũ và có những bức tranh với gam màu nhẹ, trong sáng, thanh thoát của Trà Giang. Màu của bầu trời, của hoa, của những dòng sông, những đám mây lửng lơ không năm tháng... đã đi vào tranh của chị. Một chút kỷ niệm ùa về khi bà Nguyễn Thị Xuân Phượng - chủ phòng tranh Lotus - kể rằng, ngày xưa có một anh chàng phóng viên người Nhật rất "mê" Trà Giang. Anh chàng chụp Trà Giang rất nhiều. Ngày thường anh hay cắt cúp, săm soi rồi hỏi bà Phượng về cô diễn viên Trà Giang luôn luôn. Đó là những năm 1960, khi Trà Giang còn là cô diễn viên độ tuổi 20 đóng vai chích trong Chị Tư Hậu, nhưng đến rạp vẫn bị người soát vé chặn lại hỏi vé vì... không biết cô là ai?

Còn bây giờ, chị thường tìm thú vui trong tranh tại phòng vẽ. Trong phòng treo một bức ảnh lớn Trà Giang chụp chung với Bác Hồ tại Đại hội Văn nghệ sĩ toàn quốc năm 1961, tấm pa-nô phim Một ngày mùa thu - phim đầu tay của chị, cũng năm 1961. Nhưng nhiều hơn cả vẫn là tranh của chị, và cả những bức tranh cô con gái Bích Trà vẽ chân dung mẹ. Hồi tháng 10, tranh của Trà Giang triển lãm ở Lotus Gallery, ngày đầu tiên 14 bức đã bán hết veo. Có thể vì mọi người vẫn yêu mến chị. Nhưng trên hết, những bức tranh ấy tuy chỉ là những màu sắc, đường nét của người mới bước vào hội họa, nhưng người xem vẫn cảm nhận và yêu cái tinh thần trong sáng, tình yêu thiên nhiên mà chị thể hiện trong tranh. Có vậy họa sĩ Đỗ Xuân Doãn mới nói, tranh Trà Giang mang đầy chất thơ, nhẹ nhàng và thanh thoát như hơi thở.

Trà Giang đến với hội họa cách đây 5 năm, sau sự ra đi của người bạn đời là nghệ sĩ Bích Ngọc. Con gái chị là nghệ sĩ piano Bích Trà cũng không được gần mẹ vì đang theo đuổi ngành học biểu diễn piano ở nước Anh xa xôi. Những lúc Bích Trà nghỉ hè về thăm, lòng chị chưa trọn niềm vui gần con đã “lây” nỗi buồn của con gái. Bích Trà sang Nga học piano năm 14 tuổi, nay 31 tuổi vẫn miệt mài theo đuổi chương trình cao học ngành biểu diễn piano ở Anh. Những ngày về nước, cô rất muốn được biểu diễn, giao lưu, trao đổi kinh nghiệm với khán giả, đồng nghiệp. Bích Trà tâm sự với mẹ rằng cô muốn trong ba tháng hè về nước mọi người "hãy hành xác cô đi", để cô có thể trao đổi những gì cô được học ở nước ngoài. Nhưng lại có quá ít lời mời như vậy.

Tình cờ xem lại một chương trình biểu diễn của Bích Trà trên tivi, chị lặng nhìn từng ngón tay, từng nét mặt của con. Rồi trong từng phút, từng giây nhìn con mê đắm trong âm nhạc, chị đã nghẹn ngào bật khóc. Chị khóc vì hiểu được tình yêu Bích Trà dành cho âm nhạc, khóc cho cả niềm hạnh phúc, khóc cho cả những gì chị đã hy sinh cho con.

(TheoThanh Niên)

maruco_chan
30-12-2008, 05:39 PM
NSND Trà Giang biết yêu và biết dừng lại

nguồn:http://vnexpress.net/GL/Van-hoa/Guong-mat-Nghe-sy/2004/07/3B9D49FA/
Thứ hai, 19/7/2004, 10:48 GMT+7

Người yêu điện ảnh luôn nhớ tới Trà Giang như hình tượng một người phụ nữ lý tưởng. Là cô gái vàng một thời của điện ảnh Việt Nam, chị đã tìm cho mình con đường riêng khi trở về cuộc sống đời thường.

Bước sang tuổi 61, thời gian không làm mất đi những đường nét đẹp trên khuôn mặt chị. Có lẽ mỗi khi chúng ta được nghe chị nói, ngắm nhìn gương mặt và cả cách chị cười, nhan sắc của ký ức lại trào lên bất kể khoảng ngăn cách của thời gian. Những nhân vật chị đã nhập vai qua các phim: Chị Tư Hậu, Đi đêm trong lửa rừng, Vĩ tuyến 17 ngày và đêm, Mối tình đầu, Dòng sông hoa trắng, lại thấp thoáng trong hình ảnh thực của người nghệ sĩ. Trà Giang tâm sự: "Nhan sắc cũng giống như con dao hai lưỡi. Có nhan sắc, phụ nữ có điều kiện hơn đôi chút trong các mối quan hệ và công việc. Nhưng sự thuận lợi đó chỉ là bước đầu. Sự kém hiểu biết, cư xử vụng về sẽ dần làm tan đi vẻ đẹp trời cho. Cái đẹp cũng giống như viên ngọc quý, phải tìm đúng người biết trân trọng nó. Tôi rất đau xót khi thấy nhiều cô gái xinh đẹp tự biến mình thành con búp bê trong tay các doanh nhân lắm tiền".

Chị đã ngưng đóng phim khá lâu mặc dù niềm khao khát hóa thân vào các nhân vật vẫn còn nguyên vẹn.Chị dừng lại vì không tìm thấy vai phù hợp với mình. Có lần Trà Giang đọc hết cả 30 tập phim truyền hình, thế rồi có cái gì đó nhắc nhở chị rằng đó không phải ''vương quốc'' của mình. Số phận và sắc đẹp của chị gắn liền với hình ảnh người phụ nữ trong chiến tranh. Chị Tư Hậu, chị Dịu ấn tượng với công chúng đến mức mà họ không thể đón nhận Trà Giang trong vai diễn phản diện. Những thất bại trong Đứng trước biển, Làng nổi vẫn không làm chị từ bỏ mong muốn thử sức mình.

Trước đây, thời gian rỗi, chị thường cùng hai nghệ sĩ Minh Đức, Lân Bích tham gia lớp đào tạo diễn viên trẻ tại nhà Văn hóa điện ảnh Tân Sơn Nhất. Chị tâm sự: "Tôi không đủ kiên nhẫn đứng lớp vì thấy trò lười quá. Tuy nhiên, tôi cũng thông cảm cho các em vì bây giờ ngoài chuyện học hành, các em phải kiếm tiền trang trải cho cuộc sống''.

Chấp nhận chờ đợi một vai diễn phù hợp và thoát ra khỏi cái bóng của mình trước đây, Trà Giang bất ngờ tìm thấy sự thích thú với hội họa. Hội họa đã làm cho cuộc đời chị ấm lại. Trà Giang nói rằng chị mới chỉ như người học vẽ, chập chững với niềm đam mê mới mẻ của mình. Chị thường vẽ về hoa và chân dung thiếu phụ. Trong đó, có nhiều bức vẽ lại chân dung các nhân vật mà chị từng nhập vai. "Tôi muốn học phác hoạ chân dung tốt để vẽ lại vai diễn mình đã thể hiện trên phim. Không dám nói là hội họa của tôi đã đạt được điều gì như tôi đã làm trong điện ảnh, nhưng tôi vẫn sống hết mình cho giá vẽ, tìm được nhiều niềm vui''. Cuộc sống của người nghệ sĩ cũng lặng lẽ như vậy. Mỗi chủ nhật, đến nghĩa trang thăm chồng. Còn ngày thường chị học cách thể hiện tình cảm của mình bằng màu sắc. Đó cũng là điều khiến tranh của Trà Giang có khá nhiều "cử chỉ" của điện ảnh.

(Theo An Ninh Thế Giới)

tawanana
05-04-2010, 07:58 PM
NSND Trà Giang: 'Có tài đừng 'xài' phung phí'

NSND Trà Giang cho rằng, Việt Nam hiện có nhiều diễn viên trẻ tài năng, nhưng đáng tiếc là họ thường “chạy sô” nên chưa nghiên cứu, đầu tư kỹ càng cho nhân vật. Bà trò chuyện với Đất Việt về điều này bên lề cuộc giao lưu với các nữ nghệ sĩ điện ảnh ngày 12/3, trong khuôn khổ Ngày Điện ảnh Việt Nam.

Với 17 vai diễn, nhiều vai để lại ấn tượng sâu sắc như chị Tư Hậu trong bộ phim cùng tên (1963), Dịu trong Vĩ tuyến 17 ngày và đêm (1972), mẹ Thu trong Em bé Hà Nội (1974)…, Trà Giang là diễn viên đầu tiên được nhận danh hiệu NSND. Bà còn là nữ nghệ sĩ duy nhất được trao giải Nữ doanh nhân Tâm - Tài bởi những việc làm từ thiện trong năm 2008 vì cộng đồng người nghèo, trẻ khuyết tật, mồ côi.


http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/nguyensen/20100313/A-tran-giang-2.jpg

Nghệ sĩ Trà Giang dành nhiều sự yêu mến cho những diễn viên trẻ như Hồng Ánh, Ngô Thanh Vân, Hải Yến. Ảnh: Ngọc Nhiên.

- Hằng năm bà thường tham gia trong ban giám khảo của giải "Cánh diều vàng". Bà có nhận xét gì về đạo diễn, diễn viên hiện nay so với thế hệ trước?

- Tôi cho rằng hiện nay cũng có nhiều diễn viên, đạo diễn tài năng. Tuy nhiên, trong điện ảnh, ngoài tài năng còn phải có lao động và tập trung tình yêu cho công việc mình làm. Ở thời nào làm nghệ thuật cũng cần hiểu biết, vốn sống, tình yêu, sự đam mê… Người tài hiện nay tuy không thiếu, nhưng nhiều người thường “chạy sô”, nhận nhiều vai diễn cùng lúc, nên không có thời gian nghiên cứu kỹ vai nào. Đây là điều đáng tiếc.

- Nhiều người nhận xét các diễn viên hiện nay ít ai sống đến tận cùng nhân vật như những tên tuổi thuộc thế hệ đầu tiên của điện ảnh Việt Nam. Bà nghĩ thế nào về nhận xét này?

- Diễn viên hiện nay cũng có những người đi đến tận cùng nhân vật, ví như Hải Yến, Ngô Thanh Vân, Hồng Ánh. Họ là những diễn viên tôi trân trọng và yêu mến. Họ hội tụ đầy đủ những yếu tố để trở thành diễn viên tốt. Tuy nhiên, điều quan trọng là diễn viên phải thể hiện được tình huống, tình cảm trong kịch bản để xây dựng được hình tượng nhân vật. Muốn như thế chỉ có cách rèn luyện, chăm tìm tòi, có cảm xúc tinh tế, biết quan sát những gì đang diễn ra trong cuộc sống. Tôi tin những diễn viên, đạo diễn trẻ hiện nay, nếu biết dành hết đam mê cho nghệ thuật thì sẽ đạt đến thành công.

- Có rất nhiều vai diễn để đời, nhưng vai diễn nào bà ấn tượng và bỏ nhiều công sức nhất? Bà có dựa nhiều vào nguyên mẫu để có các vai diễn chân thực?

- Với những vai của tôi mà công chúng hay nhắc đến nhất, như chị Tư Hậu, Dịu hay Nhân…, tôi đều dồn hết tâm sức. Nhưng vai Dịu trong Vĩ tuyến 17 ngày và đêm đã để lại ấn tượng sâu sắc nhất. Bộ phim nói đến những người cùng thời với mình, vấn đề mình quan tâm như đấu tranh thống nhất đất nước.

Chị Tư Hậu cũng có nguyên mẫu chính, nhưng trong cuộc sống có nhiều người phụ nữ khác có những đặc điểm, nét tính cách để tạo nên nhân vật này. Do đó, tôi đã đi gặp rất nhiều người, nhiều hoàn cảnh khác nhau để tìm hiểu và cảm nhận.


http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/nguyensen/20100313/Tra-Giang.jpg

Nghệ sĩ Trà Giang trong bộ phim Vĩ tuyến 17 ngày và đêm. Ảnh: Tư liệu

- Bà được làm việc với nhiều đạo diễn nổi tiếng như Hải Ninh, Bạch Diệp. Điều gì ở họ ảnh hưởng tới thành công của bà?

- Tôi rất biết ơn những người tôi đã cộng tác. Ví như đạo diễn Bạch Diệp đã mang đến cho tôi hai giải nữ diễn viên xuất sắc cho vai Hương trong Huyền thoại về người mẹ và Nhân trong Ngày lễ thánh. Họ là những tấm gương lao động miệt mài mà tôi luôn noi theo.

- Cảm ơn bà.

Đạo diễn Bạch Diệp: thích làm việc với người… không có nghề

Tôi nhận thấy phần lớn các diễn viên thành công không được đào tạo về điện ảnh, nhưng họ có niềm đam mê, như Hải Yến (xuất phát từ nghề múa), Ngô Thanh Vân (ca nhạc). Trong khi đó, nhiều người “có nghề” nhưng không biết đổi mới, nên thành cũ. Chính vì vậy, bản thân tôi lại thấy hứng thú hơn khi làm việc với những người… không có nghề. Đừng bao giờ hỏi tại sao diễn viên hiện nay không lấy được nước mắt khán giả. Kịch bản hiện nay rất kém, không cho phép diễn viên có đất diễn. Kịch bản nói như robot thì làm sao lấy được nước mắt khán giả.

Diễn viên Đỗ Hải Yến: Cần thêm nhiều vốn sống

Thế hệ diễn viên trẻ chúng tôi chưa kéo được khán giả là do chưa có nhiều vốn sống, chưa tinh tế để có thể quan sát cuộc sống xung quanh. Để có được thành công nhất định, ngoài tình yêu và sự đam mê, tôi luôn phải quan sát những gì diễn ra xung quanh mình để từ đó có được những vốn kiến thức nhất định.

Diễn viên Ngô Thanh Vân: Không ngại xấu, ngại đau

Cái mà Vân học hỏi được từ các thế hệ đi trước là sự hy sinh, không ngại xấu, ngại đau, ngại khó khăn… Họ luôn nghiêm túc trong các sản phẩm của mình. Đối với diễn viên, khi nhận vai chỉ biết cố gắng hết mình. Còn phim đó có hay, có thu hút khán giả hay không phụ thuộc nhiều vào nhà biên kịch và đạo diễn.

Ngọc Nhiên
Theo Báo Đất Việt

tawanana
18-05-2010, 04:26 PM
Trà Giang – Chị Tư Hậu - Ngôi sao sáng mãi

(TGĐA) - Đó là người diễn viên ưu tú nhất của nền điện ảnh Cách mạng Việt Nam.


http://c.upanh.com/upload/6/791/UL0.10976371_1_1.jpg

Giờ đây, dẫu chị không đóng phim nữa, song bầu trời điện ảnh Việt Nam còn mãi mãi một ngôi sao mang tên chị.

Núi Ấn sông Trà là những thắng cảnh nổi tiếng của Quảng Ngãi. Chị là người may mắn được thừa hưởng những tinh hoa tinh túy nhất của sông núi quê hương. Chị có diễm phúc sống trong một thời kỳ mà những vẻ đep lý tưởng của cuộc sống hòa bình, của vẻ đẹp cách mạng đang vào mùa đẹp nhất. Nên gương mặt chị là kết tinh vẻ đẹp của gương mặt thời đại.

Trà Giang bước vào điện ảnh Việt Nam thời kỳ đầu như một mối lương duyên. Trà Giang làm sang trọng cho điện ảnh Cách mạng Việt Nam. Và điện ảnh Cách mạng Việt Nam đã tôn vinh ngôi sao hình tượng của mình. Nếu Trà Giang là diễn viên sân khấu thì chưa chắc chị đã đạt được nhiều thành tich như trong điện ảnh vì chưa chắc chị đã có vị trí xứng đáng trong lòng công chúng Việt Nam và quốc tế.

Miền Bắc Việt Nam năm 1964.

Những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX, cái gì cũng đẹp. Thơ hay. Văn trong sáng. Nhạc đẹp. Những bức tranh khỏe mạnh. Bầu trời trong xanh. Mặt đất hiền hòa. Gương mặt con người đôn hậu, phơi phới niềm tin.Và tất cả đều hướng về miền Nam thân yêu.

Trong lịch sử 500 năm mở cõi về phương Nam của dân tộc, chắc có nhiều trang oanh liệt. Ý chí thống nhất đất nước luôn sôi sục trong lòng tiền nhân. Song ý chí đó, có lẽ, chưa bao giờ được các văn nghệ sỹ thể hiện một cách nhiệt thành như giai đoạn những năm chống Mỹ. Truyện ký “Một chuyện chép ở bệnh viện” của nhà văn Bùi Đức Ái ra đời lúc này. Những trang sách chân thực gây chấn động với hàng triệu độc giả. Ngay lập tức, nó được chính nhà văn chuyển thể lên màn ảnh. Đạo diễn Phạm Kỳ Nam, quay phim Nguyễn Khánh Dư, họa sỹ Trần Kiềm bắt tay vào dàn dựng và thể hiện.


http://c.upanh.com/upload/6/791/CS0.10976365_1_1.jpg

Và vai chính - nhân vật chính - chị Tư Hậu được giao cho diễn viên Trà Giang.

Sau 10 năm tập kết ra Bắc, Trà Giang có cơ hội đóng vai người phụ nữ miền Nam.

Nhà văn Bùi Đức Ái, với bản chất khắt khe đối với cuộc sống cũng như đối với nghệ thuật của mình, đã viết kịch bản hết sức công phu. Và đạo diễn Phạm Kỳ Nam, sau “Chung một dòng sông”, ông đã biết cách cộng tác với những người giỏi hơn mình trong loại hình nghệ thuật tổng hợp có tên là điện ảnh. Điều rủi ro lớn đối với bất cứ đạo diễn nào thể hiện ở chỗ anh ta không xây dựng được mối quan hệ chặt chẽ với nhà biên kịch.
Và Trà Giang, với vai chị Tư Hậu, đã minh chứng chân lý, rằng người diễn viên nên có đầy đủ quyền hành như người sáng tạo ra kịch bản, như đạo diễn, nghĩa là cũng sáng tạo để thể hiện một cách sâu sắc hơn, chuẩn xác hơn tư tưởng cũng như tư duy hình ảnh của đạo diễn.

Với vai chị Tư Hậu, Trà Giang đã lưu lại trong tâm trí khán giả một hình ảnh đẹp của người diễn viên. Đó là con người lao động miệt mài vì nghệ thuật với tâm hồn trong sáng và với lòng đam mê kỳ lạ.

Ở đầu phim, ta thấy đạo diễn Phạm Kỳ Nam đã sớm đặt nhân vật vào một tình huống khắc nghiệt. Khi chị Tư Hậu chạy vào chòi cá, Hai Báu xộc vào theo. Cái chòi cá được dựng bằng những cành dương. Diễn cảnh người phụ nữ bị hiếp như thế nào? Làm sao vừa biểu hiện được sự lo âu, nỗi sợ hãi, đồng thời cũng thể hiện được sự uất hận? Không những vậy, người diễn viên còn phải thể hiện cảnh này sao không rơi vào trạng thái dung tục? Không gian cảnh quay là nội, trong chòi cá. Thời gian là ban ngày. Đó là một cảnh diễn rất khó, có thể nói là chưa từng có trong điện ảnh cách mạng Việt Nam. Lịch sử điện ảnh Việt Nam chưa có những bài học kinh nghiệm về việc thể hiện những cảnh bạo lực và tình dục như thế. Đây là một cảnh diễn nan giải đối với nữ diễn viên Trà Giang. Lúc ấy chị còn rất trẻ. Tuy chưa có nhiều kinh nghiệm diễn xuất, nhưng bù lại, chị được tạo hóa tặng cho một gương mặt giàu tính biểu cảm và đôi mắt tuyệt vời. Các nhà lý luật điện ảnh, khi nói về diễn viên, hầu như đều tập trung nói về gương mặt của họ. Đối với bất cứ người đạo diễn nào, thì gương mặt người diễn viên luôn như một cánh đồng vô tận, không thể nào và không ai có thể khai thác hoặc khám phá đến tận cùng. Và Trà Giang, với gương mặt của mình, dù chị diễn đủ loại cung bậc tình cảm của con người, thì gương mặt ấy, nhìn lúc nào cũng thấy có sức hút, có một vẻ đẹp bí ẩn luôn lấp lánh tỏa ra. Đạo diễn Phạm Kỳ Nam và quay phim Nguyễn Khánh Dư đã hợp tác chặt chẽ với nhau, khai thác một cảnh rất khó, khai thác cao trào của cảnh bằng cách khai thác khuôn mặt nhân vật. Hai ông bàn với nhau đẩy máy nổ trên cát, dùng loại đèn có công suất 1 vạn KW để tạo ánh sáng chiếu qua khe cửa của các cành dương để tạo hình khuôn mặt nhân vật với những vệt đen cắt ngang thì hình ảnh sẽ dữ dội hơn, khủng khiếp hơn. Cách tạo hình đó cùng với những hành động quyết liệt của nhân vật khi chống lại kẻ thù đã thu được những hiệu quả có một không hai. Và đôi mắt chị Tư Hậu được nhà quay phim Khánh Dư miêu tả bằng động tác máy lộn ngược. Và hình ảnh được chỉnh từ mờ đến rõ. Gương mặt và đôi mắt ấy của chị Tư Hậu đã trở thành những cảnh diễn xuất kinh điển, cảnh quay phim kinh điển và cách dàn dựng kinh điển của điện ảnh Việt Nam trong những bước đi ban đầu.

Người ta hay nói về tính cách của nhân vật bằng những từ chung chung như đôn hậu, nhanh nhẹn, ích kỷ v.v... Đó là những từ hết sức trừu tượng. Và đương nhiên, nếu diễn viên nào cảm thấy mình nhập vai với những cảnh phân tích tính cách như vậy thì vai diễn cũng hết sức nhạt nhòa, đơn điệu. Đó không phải là tính cách. Đó chỉ là những khái niệm mang tính chất ước lệ.

Trong nghệ thuật, mọi cái đều phải rõ ràng, cụ thể. Và người diễn viên phải thể hiện được những cái rõ ràng, cụ thể đó bằng hành động của mình. Hành động này có liên quan đến hoàn cảnh, môi trường cuộc sống, với mọi người xung quanh. Và đối với người diễn viên, anh ta (chị ta) luôn phải sống trong vai diễn của mình. Điều này được Trà Giang thể hiện rất rõ trong phim Chị Tư Hậu. Với vai này, Trà Giang không chỉ thể hiện chính bản thân mình. Chị đã làm sáng tỏ được nhân vật. Để nhập vai, chị đã có một quá trình tìm kiếm cho bản thân mình một tiểu sử mới và những mối quan hệ mới. Với vai chị Tư Hậu, Trà Giang như đã lãng quên chính mình. Nhưng qua một chuỗi những hành động, suy nghĩ, các mối quan hệ do nhân vật tạo ra, nhưn những nguồn sóng mới. Và thông qua những cái này, ta sẽ thấy xuất hiện một nhân vật mới.Nhiều diễn viên cảm thấy khó chịu khi phải mất công vào quá tình phân tích nhân vật. Với Trà Giang, việc đọc kỹ kịch bản, đi sâu vào kịch bản đã giúp chị tìm thấy những điều lớn lao, có giá trị quyết định.


http://c.upanh.com/upload/6/791/CS0.10976369_1_1.jpg

Ta hãy cùng khai thác trường đoạn chị Tư Hậu chạy ra biển tự tử.

Sau sự việc ở chòi cá, chị Tư Hậu lao ra biển tự tử. Đây là một trong những trường đoạn mang tính chất giáo khoa với nhiều chuyên ngành của điện ảnh. Xét về mặt dàn dựng, đạo diễn đã dàn dựng một bãi biển trống vắng. Biển nổi sóng lớn. Nhân vật chạy trên cát và trên biển với tâm trạng uất ức, tủi hổ. Âm thanh bao trùm là tiếng sóng biển reo gọi. Tiếng động là những bước chân như nhịp tim đau đớn ,tìm đến cái chết. Về mặt quay phim, để miêu tả tâm trạng của chị, nhà quay phim Khánh Dư đã “bắc một cái travelling dài 70m, một độ dài lý tưởng của thời ấy. Cấu trúc cảu cái dolly boom ấy là dolly từ ngang bờ đến thẳng hướng biển, để tôi có thể quay cảnh chị chạy từ trên bờ biển và võng xuống biển. Khi quay đoạn chạy trên bờ, tôi lia từ chân lên mặt để cho thấy sự rối bời. Khi chạy ra đến biển thì máy trên dolly boom từ dưới lên cao, cao dần để thấy chị lừng lững đi ra giữa biển. Máy trên cao úp xuốngs gần như nơi đỉnh đầu, đến khi có tiếng con khóc ở bờ thì chị gần như sực tỉnh. Dolly từ trên cao hạ nhanh xuống, hướng thẳng vào mặt chị. Tôi cho đấy là một cảnh tuyệt vời, một động tác máy chính xác đến không tưởng, và trên hết là hình ảnh từ từ đi vào lòng người , cho thấy nỗi đau, sự mất mát và sự thức tỉnh” ( trích 10 bí quyết hình ảnh - NXBVăn Hóa Sài Gòn - 2008) Về mặt diễn xuất của diễn viên, ta nhận thấy nhân vật đã vào cảnh rất đúng lúc. Chị đã chạy vào cảnh với một tốc độ không thể nhanh hơn, với một thái độ quyết liệt đối mặt với cái chết. Không biết chị Trà Giang đã phải tập cách chạy vào cảnh như vậy bao nhiêu lần. Bước chân. Gương mặt. Ánh mắt. Thái độ.... Không có đạo cụ nào để chị có thể tựa vào. Máy chúc xuống diễn tả hình ảnh chị thật cô đơn, tuyệt vọng. Khán giả dõi theo, lo lắng cho nhân vật. Song, thật bất ngờ. Một âm thanh đã bay vút tới, chặn đứng cái chết. Âm thanh ấy đã có một điểm rơi không thể tốt hơn. Đó chính là tiếng khóc của đứa con gái. Chị bàng hoàng, sực tỉnh, dừng lại. Bao nhiêu tâm trạng được thể hiện trong một khoảnh khắc vĩnh cửu trên nét mặt , trong ánh mắt chị. Tiếng khóc ấy có sức mạnh hơn ngàn hình ảnh. Đạo diễn - quay phim và diễn viên đã tạo ra một trường đoạn xứng đáng là kiệt tác của điện ảnh nước ta.

Đó là sự tính toán chính xác đến mức tuyệt đối như toán học của tập thể các nhà làm phim. Đó là kết quả của một quá trình phân tích logic hành động của nhân vật, phân tích hành vi của con người, phân tích sự vận động của nhân vật, phân tích kỹ lưỡng động tác máy, phân tích hiệu quả của âm thanh v.v... và có thể thêm điều này nữa, đó là sức khỏe của diễn viên. Nếu chị Trà Giang không khỏe mạnh, và tuổi vẫn còn trẻ, chắc không thể có bước chạy quyết liệt và quyến rũ đến thế. Đó cũng là một logic mà ít ai quan tâm. Tôi xin bổ sung thêm một chuyện. Ngày học ở VGIK, tôi thấy các nữ diễn viên học nhảy theo nhạc đến đẫm mồ hôi. Rồi họ còn phải học trượt tuyết, trượt băng, bắn súng, cưỡi ngựa, bơi lội, chạy trên các địa hình. Tôi hỏi diễn viên A. Batalov, sao khoa diễn viên không có nữ sinh viên Việt Nam học tập, ông trả lời, diễn viên rất cần sức khỏe. Có thể do thể lực của nữ diễn viên Việt Nam khá yếu nên không thể theo học được khoa này. Từ đó tôi cứ suy nghĩ mãi về ý kiến của ông.

Trong điện ảnh Việt Nam, nhiều đạo diễn dàn dựng những cảnh ngoài trời tốt hơn những cảnh trong nhà. Cũng tương tự, đa số các quay phim quay những cảnh ngoại tốt hơn cảnh nội. Nguyên nhân có thể do các nhà làm phim chủ yếu là đạo diễn và quay phim chưa làm chủ được ánh sáng và thường bỏ qua khâu kỹ thuật lấy cảnh. Điều đó dẫn đến hiện tượng là nhiều diễn viên cũng diễn thành công hơn những cảnh ở ngoài trời.
Riêng Chị Tư Hậu, Trà Giang đã diễn một trường đoạn được quay nội rất thành công. Đó là trường đoạn chị Tư Hậu đỡ đẻ cho vợ một anh lính ngụy tên là Mười Hội.

Căn nhà của người vợ lính được đạo diễn Phạm Kỳ Nam dàn dựng khá giản dị. Hầu như không có gì đặc biệt. Phía trên treo một chiếc đèn măng-xông. Trung tâm cảnh là một người phụ nữ trong cơn đau đẻ. Bên ngoài đất trời đang vần vũ. Âm thanh của tiếng mưa và tiếng gió quất vào bối cảnh. Chị Tư Hậu vào cảnh với thái đội vội vã như cứu người chết đuối. Đạo cụ chị mang theo vào cảnh chỉ có một túi y tá. Cảnh được bắt đầu với cuộc tiếp xúc giữa chị Tư Hậu với vợ Mười Hội. Mấy lời thăm hỏi, động viên của chị Tư Hậu không làm cho người phụ nữ trở dạ bớt đau đớn. Tiếng kêu của chị khiến không gian như căng thẳng thêm. Sự lúng túng của người chồng làm xung đột cảnh thêm đa chiều. Âm thanh của những dụng cụ y tế như đẩy tiết tấu của cảnh nhanh hơn. Bạn diễn của Tư Hậu là người phụ nữ quằn quại rên la như tác động mạnh đến sự tập trung của diễn viên Trà Giang. Song ngay lúc ấy, lại thêm một loạt âm thanh dội xuống bối cảnh. Đó là tiếng súng, tiếng pháo. Khuôn hình như bị căng xé ra. Ngọn đèn bão lắc lư. Ánh sáng chao đảo. Cái chậu nước rơi xuống, vỡ ra. Chị Tư Hậu phải tìm nơi trú thân. Nhưng không có một khoảnh khắc im lặng nào ngưng đọng. Diễn viên tiếp tục diễn xuất. Chị Tư Hậu tiếp tục hành động. Xử lý dụng cụ y tế. Động viên sản phụ. Phân việc cho người chồng. Rồi đứa trẻ được sinh ra. Tiếng khóc oa oa hòa trong tiếng súng. Bất ngờ vọng vào khuôn hình tiếng gà gáy. Mặt vợ chồng Mười Hội sáng ngời. Chị Tư Hậu mệt lả, dựa vào vách nhà. Gương mặt mệt mỏi đầy thanh thản.


http://c.upanh.com/upload/6/791/3L0.10976359_1_1.jpg

Để có được một vai diễn thành công, ngươi diễn viên cần phải có sự hưng phất tuyệt đối và sự tính toán chính xác trong cùng một thời điểm. Tài nghệ của Trà Giang đã đi vào hình tượng của vai chị Tư Hậu nhưng vẫn toát lên vẻ đẹp của diễn viên Trà Giang.

Nhìn Trà Giang nhập vai, người xem có cảm giác chị vào vai rất dễ dàng, rất tự nhiên, Đối với người diễn viên, vào vai một cách tự nhiên là cái khó khăn nhất trong nghệ thuật diễn xuất. Và không thể có sự diễn xuất giỏi nếu người diễn viên chỉ dựa vào năng khiếu. Thiếu sự lao động và rèn luyện nghiêm túc, công phu không thể có nghệ thuật. Trà Giang đã trải qua những ngày lao đông nghệ thuật đầy cam go, gian khó, tập trung cao độ nhất cùng với những khát khao, cháy bỏng nhất mới tạo ra vai diễn xuất sắc như vai chị Tư Hậu.


Đó là vai diễn đầu tiên của điện ảnh Cách mạng Việt Nam về hình ảnh một người phụ nữ trưởng thành trong cuộc đấu tranh giải phóng. Việc chọn được kịch bản, tạo ra bầu không khí hành động sáng tạo, người đạo diễn đã giúp người diễn viên thể hiện những gì tốt đẹp nhất trong con người mình. Đạo diễn Phạm Kỳ Nam đã dàn dựng nhiều phim, song Chị Tư Hậu là phim thành công nhất của ông. Nhà quay phim Nguyễn Khánh Dư cũng đã đoạt nhiều giải thưởng trong vai trò người cầm máy quay, song, cho đến cuối đời, ông đã công nhận rằng, ông thành công nhất với vai trò người quay phim Chị Tư Hậu. Và với Trà Giang cũng vậy. Chị đã đóng nhiều phim vói nhiều vai diễn cũng như nhiều giải thưởng quốc gia và quốc tế, song vai diễn thành công nhất của chị mãi vẫn là vai chị Tư Hậu.

Về bộ phim Chị Tư Hậu, tuy còn một số vấn đề về tuyến xung đột của tác phẩm, ví dụ như, kẻ gây tội các với chị Tư Hậu là viên sỹ quan Pháp, song anh Khoa, chồng Tư Hậu, lại bắn Hai Báu, sỹ quan Ngụy. Điều này có thể có thật trong cuộc sống song các nghệ sỹ phản ánh thực tế qua lăng kính nghệ thuật không nên quá lệ thuộc vào cuộc sống. Thêm vào đó, các tuyến nhân vật phụ và các đường dây cốt truyện phụ còn mờ nhạt, thiếu tập trung bởi các nhân vật phụ chưa ai có câu chuyện rõ nét của mình. Tuy nhiên, Chị Tư Hậu vẫn là một mốc son trong lịch sử điện ảnh Việt Nam. Và Trà Giang từ vai chị Tư Hậu đã trở thành một ngôi sao sáng trên bầu trời điện ảnh Việt Nam. Bộ phim Chị Tư Hậu cùng với diễn xuất của Trà Giang là một trong số không nhiều tác phẩm điện ảnh mà khán giả sau này còn có nhu cầu xem lại.


Đoàn Tuấn
Theo TGDA