Login now! Register Now!
Forgot Password?    The Facebook Platform
Chào bạn! Bạn nhận được thông báo này do chưa đăng nhập vào DienAnh.Net.
Bạn vui lòng đăng nhập vào DienAnh.Net để sử dụng các tính năng của DAN đầy đủ hơn!
Trang 1/14 1234511 ... Trang CuốiTrang Cuối
kết quả từ 1 tới 15 trên 198
  1. #1
    Tham gia ngày
    Jan 1970
    Bài gởi
    3,245

    Mặc Định [2001 - 2005] Hán Vũ Đế 1,2,3 | Huỳnh Hiểu Minh, Ninh Tịnh

    do dawn gửi
    Nói chung là mình thích mối tình của Lưu Triệt với Vệ Tử Phu ở phần 1. Vương Linh đẹp quá trời mà. Nhưng qua phần 2 cho Ninh Tịnh đóng, chịu không nổi luôn.
    Cái này trong phần 1




    do cafechocolate gửi

    do Dawn gửi
    Cái nì trong phần 2

  2. #2
    Forly's Avatar
    Forly vẫn chưa có mặt trong diễn đàn (¯`·Tương Tư Biệt·´¯) ★ Quá khứ chỉ là hồi ức ✿ ^Leaving U^ ♥I'll always miss Qღ

    Tham gia ngày
    Jan 1970
    Địa chỉ
    hữu hạn vô thường
    Bài gởi
    3,517
    Blog Entries
    14

    Mặc Định

    Hán Vũ Đế I


    Thời lượng : 41 tập
    Sản xuất : 2001
    Đạo diễn : Lương Bổn Hy,Cao Dực Tuấn
    Nhà sản xuất : Thạch Tuyết,Sử Kinh Quốc
    Tổng kế hoạch : Hạ Hách,Trâu Tái Quang
    Chế phiến : Chu Mẫn
    Liên hiệp sản xuất : Cty đầu tư ảnh nghiệp Bảo Thạch,Trung tâm văn hóa nghệ thuật Trường Thành TQ
    Diễn viên và vai diễn
    Huỳnh Hiểu Minh vai Lưu Triệt
    Trần Đạo Minh -- Đông Phương Sóc
    Trần Sa Lợi -- Đậu thái hậu Đậu Y Phòng
    Giả Tĩnh Văn -- Niệm Nô Kiều(Viên Phượng Nghi)
    Vương Linh -- Vệ Tử Phu
    Trần Tử Hàm -- công chúa Bình Dương
    Hà Giai Di -- Trần A Kiều
    Lưu Quán Tường -- Lý Lăng
    Lưu Di Quân -- Thu Thiền
    Tôn Phi Hổ -- Hoài Nam vương Lưu An
    Trương Minh Kiện -- Trương Thang
    Thương Dung -- quận chúa Lưu Lăng
    Lưu Tiêu Tiêu -- Quách Xá Nhân
    Trì Quốc Đống -- Lý Quảng
    Giả Hoành Vỹ -- Quán Phu
    Trương Hồng Huệ -- Lôi Bị
    Tống Đại Quang -- Vệ Thanh
    Kim Thiên -- công chúa Quán Đào(Lưu Phiêu)
    Tống Tiểu Xuyên -- Đậu Anh
    Kiều Kiệt -- Lý Cảm
    Lý Đại Hân -- Lưu Nghĩa
    Từ Lâm -- Vương thái hậu Vương Chí
    Lý Thịnh Dục -- Tư Mã Thiên
    Diêu Cương -- Lương vương Lưu Vũ
    Tôn Hạo -- Tào Thọ
    Y Dương -- Tư Mã Tương Như
    Lưu Nghĩa -- Đổng Yển
    Lý Uy -- mẹ Quách Xá Nhân
    Tôn Giao -- Đậu Uy
    Mã Tiệp -- Đình úy
    Lý Lập -- Hoắc Khứ Bệnh
    Tu Tông Địch -- Lão hầu gia
    Chu Chính -- Tư Mã Đàm
    Triệu Chính Dương -- Trương Khiên
    Hác Dương -- vợ Trương Thang
    Bành Bột -- Trác Văn Quân
    Tôn Vạn Thanh -- Hán Cảnh đế
    Triệu Đông Bách -- người thần bí
    Nhã Băng -- Yên Chi
    Thường Hồng -- Lão Bảo

    Tài liệu lịch sử về cuộc đời Hán Vũ Đế Lưu Triệt

    Spoiler:

    Nguồn : wikipedia.org
    Hán Vũ Đế (chữ Hán: 漢武帝), tên thật là Lưu Triệt (劉徹; 156 TCN – 87 TCN), là vị Hoàng đế thứ bảy của nhà Tây Hán trong lịch sử Trung Quốc. Ông cai trị từ năm 140 TCN đến 87 TCN (54 năm), là vua trị vì lâu nhất trong các vua nhà Hán. Ông nổi tiếng là vị hoàng đế tài ba, đã làm nhiều việc củng cố nền cai trị và mở cửa ra bên ngoài.

    Do kiêng tên húy của Vũ Đế, các sách vở Trung Quốc thời đó phải chép chữ Triệt ra chữ Thông. Sau này một số sách vở dùng tư liệu của đời Hán soạn cũng chép tương tự.

    Tiểu sử của ông được ghi tại Hán thư, quyển 6 “Vũ Đế kỷ” và Sử ký, quyển 28 “Phong thiện thư”.

    Thân thế

    Lưu Triệt, từng là Giao Đông vương, là con thứ 10 của Hán Cảnh Đế Lưu Khải, mẹ là hoàng hậu Vương Chí. Năm 140 TCN, Hán Cảnh đế qua đời, Lưu Triệt lên thay, tức là vua Hán Vũ Đế.
    Cai trị
    Đối nội
    Củng cố nền quân chủ chuyên chế

    Khác với vua cha, ông là người chuyên chế, nóng nảy, nhưng cùng rất nhiều mưu lược tài năng, rất sùng đạo Nho, không theo chính sách vô vi (ít can thiệp vào việc dân) của đạo Lão, như vua đời trước, mà ưa Đạo giáo giống như Tần Thủy Hoàng và Hán Cao Tổ

    Thấy đời vua cha, nhóm thất vương làm phản, Vũ Đế quyết tâm bỏ hẳn chế độ phong kiến. Một mặt ông dùng thuật của Pháp gia, đồng thời để trị chư hầu quý tộc (sai người thân tín giúp việc họ do thám họ, ngăn chặn sự mưu phản và lần lần tước hết quyền hành, đất đai họ).

    Muốn diệt họa Hung Nô và mở mang bờ cõi thì quân đội phải mạnh, quân luật phải nghiêm, và ông dùng chính sách của Pháp gia. Vũ Đế không tha thứ cho những viên tướng bại trận, không xét hoàn cảnh và tình thế của họ, cứ thẳng tay trừng trị. Vì vậy, có nhiều tướng bại trận phải theo hàng giặc chứ không dám về triều đình. Thấy vậy, Vũ Đế lại càng tàn nhẫn, tru di tam tộc những tướng này, như trường hợp của Lý Lăng. Không ai dám trái ý ông, chỉ tỏ vẻ bất mãn, bất phục cũng đủ làm cho ông trị tội rồi. Vì vậy, triều thần không ai dám can gián. Tư Mã Thiên chỉ vì bênh vực Lý Lăng mà phải chịu tội nhục nhã nhất thời đó: tội bị thiến.

    Một mặt, ông rất đề cao Nho học, đặt ra chức ngũ kinh, bác sĩ, tuyển dụng những người giỏi như Công Tôn Hoằng, rồi lại thay đổi triều chính, sửa lại lịch, định lễ tế trời và tế đất, xây cất cung điện. Ông cũng trọng dụng những nhà nho như Đổng Trọng Thư, và thích những nhân văn có tài làm phú ca tụng như Tư Mã Tương Như.[1] Nhờ vậy, văn học thời bấy giờ phát triển.[1]

    Như vậy là Vũ Đế dùng cả Pháp lẫn Nho mà hoàn thành được cuộc cách mạng về chính trị, củng cố được chính thể quân chủ chuyên chế: quyền hành tập trung vào tay triều đình và giao phó và giao phó cho kẻ sĩ có tài do dân tiến cử và cả do hoàng đế tuyển dụng. Quý tộc, thân vương vẫn còn được hưởng nhiều đặc quyền, nhưng phải tuân lệnh vua và Tể tướng.
    Chính sách kinh tế

    Năm nào nào cũng chinh phạt, mà hoàng đế lại xa xỉ, xây cất thêm nhiều cung thất, cho nên triều đình luôn thiếu tiền. Muốn có tiền, Vũ đế dùng ba cách:

    * Phát hành một thứ tiền làm bằng kim loại và thiếc, như vậy trữ kim tăng lên; ông lại đặt ra thừ tiền bằng da nữa.
    * Bán tước và cho chuộc tội bằng tiền.
    * Tuyên bố bao nhiêu tài nguyên trong nước thuộc về quốc gia hết, như vậy “tư nhân không thể chiếm các nguồn lợi của núi, biến làm của riêng mà thao túng các giai cấp thấp hơn”.

    Triều đình giữ độc quyền cất và bán rượu, độc quyền làm muối, khai thác các mỏ sắt, năm 119 TCN đặt ra chức quan coi về sắt, gọi là diêm thiết quan.

    Hán Vũ đế có sáng kiến diệt những người trung gian đầu cơ, những người cho vay nặng lãi hoặc chứa chất hàng hoá khi giá rẻ rồi bán cho nhân dân khi giá đắt.

    Ông đã tổ chức một cơ quan chuyên chở và trao đổi thuộc quyền nhà nước, kiểm soát thương mại chặt chẽ để giá cả khỏi thình lình lên xuống. Trong khắp đế quốc nơi đâu cũng có những nhân viên của triều đình lo việc chuyên chở và giao hàng. Lúc nào mua sản phẩm thì triều đình giữ lại, đợi lúc giá tăng thì đem bán rẻ cho dân, hễ giá xuống thì lại mua vào để trữ; như vậy “bọn phú thương không đầu cơ mà vơ được món lợi lớn... và giá được bình lại”. Người ta đã ghi sổ tất cả những lợi tức của họ để thu thuế hàng năm là 5%.

    Hán Vũ đế lại cho khởi công nhiều công tác lớn để cho hàng triệu thợ bị các xí nghiệp tư sa thải có công ăn việc làm, khỏi bị thất nghiệp: bắc cầu qua sông, đào nhiều kênh để nối các dòng sông với nhau và dẫn nước vào ruộng.[1]

    Theo Nguyễn Hiến Lê, Sau mấy trận lụt xen với mấy cơn đại hạn kéo dài, vật giá tăng vọt lên, dân chúng la ló, muốn trở lại chế độ cũ, và những người kinh doanh bất bình vì triều đình can thiệp vào công việc của họ, thuế má quá nặng, không còn làm ăn gì được; lại thêm các cung phi được nhà vua sủng ái lấn át các đại thần, nên sau khi Vũ đế qua đời nạn tham nhũng lan tràn khắp nước, sự bóc lột người nghèo bắt đầu trở lại, và trong non một thế kỉ, những cải cách của Vũ đế bị chê bai.
    Đối ngoại

    Hàn Vũ Đế đã khuếch trương thế lực, ngăn chặn được cuộc xâm lăng lúc nào cũng phải bận tâm của Hung Nô ở phương Bắc từ thời Chiến Quốc.

    Trong cuộc đời ông, công trạng của ông được nhắc đến là đánh tan được sự uy hiếp và xâm nhập biên cương của Hung Nô. Sau khi Vũ Đế lên ngôi, kinh tế phát triển, xã hội ổn định, đời sống ấm no, chuẩn bị điều kiện đầy đủ cho ông khuếch trương thế lực ra bên ngoài.

    Mấy năm đầu, Hán Vũ Đế vẫn tiếp tục chính sách hòa thân với Hung Nô, lợi dụng lòng tham của quý tộc Hung Nô, mở rộng cửa quan buôn bán. Mặt khác, Hán Vũ Đế chuẩn bị lực lượng chuyển thế thủ thành thế công.

    Năm 129 TCN, đế quốc Tây Hán chính thức tiến công Hung Nô, kéo dài đến năm 127 TCN, thu được nhiều thành trì ở Nội Mông Cổ, Hà Nam.

    Từ năm 124 TCN đến năm 119 TCN, Hán Vũ Đế thường xuyên dùng từ 10 đến 20 vạn quân đánh phá Hung Nô, nhiều lần quân Hung Nô bại trận, người và của tổn thất rất nhiều. Từ đó, Hung Nô chạy xa không dám quay lại, xóa được nạn Hung Nô uy hiếp triều đình. Thời kỳ này có các danh tướng như Vệ Thanh, Hoắc Khứ Bệnh lần lượt xuất binh Bắc phạt qua cửa ải Nhạn Môn Quan.

    Chính sách đối ngoại khuếch trương của Hán Vũ Đế không những dẹp yên nạn xâm lăng, mở rộng bờ cõi phương Bắc mà còn đánh chiếm và đưa tay thống trị xuống phía nam - Nam Việt, đông - Cổ Triều Tiên, tây - Tân Cương, biên cương mở rộng.
    Cuối đời

    Cuối đời, Hán Vũ Đế sa vào hưởng lạc, xây cất nhiều cung điện và tin vào chuyện mê tín. Do tin vào chuyện trong một giấc mơ, ông sai cận thần Giang Sung mở một cuộc điều tra và thảm sát nhiều người, trong đó có cả cha thừa tướng Công Tôn Hạ, các công chúa là chị em gái ông như Chư Ấp, Dương Thạch, cháu Vệ hoàng hậu là Vệ Nguyên,... Cuối cùng Giang Sung tìm đến cung của Vệ hậu và thái tử Lưu Cứ, rao lên rằng có bùa yểm. Lưu Cứ sợ Giang Sung hại mẹ con mình, bèn giả lệnh vua bắt Sung và mang quân chiếm cứ các vị trí trọng yếu trong kinh thành Tràng An. Hán Vũ Đế đang dưỡng bệnh, nghe tin thái tử làm loạn bèn sai thừa tướng Lưu Khuất Mạo đem quân bắt thái tử. Cuối cùng thái tử Lưu Cứ bị thua, phải tự vẫn. Vệ hậu và 3 hoàng tử, 1 công chúa khác cũng bị xử tử.

    Không lâu sau đó thừa tướng Lưu Khuất Mạo cũng bị cho là dính dáng tới chuyện yểm bùa và bị giết.

    Cuối cùng Hán Vũ Đế tỉnh ngộ ra rằng những chuyện yểm bùa phần nhiều do Giang Sung bày đặt ra, nên bắt giết cả nhà Giang Sung.

    Hán Vũ Đế sau đó còn cố gắng tìm thuốc tiên để trường sinh bất lão. Ông gả con gái cho phương sĩ Dịch Đại, phong làm tướng quân và tước hầu, giao cho 10 vạn cân vàng để tìm thuốc tiên. Vì Dịch Đại tìm mãi không ra thuốc tiên nên bị Vũ Đế giết chết.

    Hán Vũ Đế qua đời năm 87 TCN, hưởng thọ 70 tuổi, được tôn miếu hiệu là Thế Tông, thụy hiệu là Hiếu Vũ Hoàng đế, thường gọi là Vũ Đế. Ông là vị vua ở ngôi lâu nhất và thọ nhất nhà Tây Hán.

    Vũ Đế mất, Thái tử Lưu Phất Lăng lên ngôi, tức là Hán Chiêu Đế. Vua mới tuổi còn nhỏ, được Đại Tư Mã Hoắc Quang giúp sức, tiếp tục sự phồn thịnh của nhà Tây Hán qua 2 đời Chiêu Đế (87 TCN - 74 TCN), Tuyên Đế (74 TCN - 49 TCN)
    Niên hiệu

    Trong 54 năm ở ngôi, Hán Vũ Đế đặt 11 niên hiệu. Điều đáng chú ý là 6 niên hiệu đầu được ông đều đặn đổi 6 năm 1 lần; 4 niên hiệu sau đó đổi đều đặn 4 năm 1 lần; niên hiệu cuối cùng được 2 năm thì ông qua đời:

    * Kiến Nguyên (140 - 135 TCN)
    * Nguyên Quang (134 - 129 TCN)
    * Nguyên Sóc (128-123 TCN)
    * Nguyên Thú (122 - 117 TCN)
    * Nguyên Đỉnh (116 - 111 TCN)
    * Nguyên Phong (110 - 105 TCN)
    * Thái Sơ (104 - 101 TCN)
    * Thiên Hán (100 - 97 TCN)
    * Thái Thủy (96 - 93 TCN)
    * Chính Hòa (92 - 89 TCN)
    * Hậu Nguyên (88 - 87 TCN)

    Gia quyến

    * Cha: Hán Cảnh Đế
    * Mẹ: hoàng hậu Vương Chí
    * Vợ:
    o Trần Kiều (bị phế năm 130 TCN vì việc bùa chú phù thủy)
    o Vệ Tử Phu (mẹ của Lưu Cứ, bị giết năm 91 TCN)
    o Câu Dặc (mẹ của Lưu Phất Lăng, bị giết năm 88 TCN)
    o Lý phu nhân
    o Vương phu nhân
    * Con:
    o Lệ thái tử Lưu Cứ (劉據; 128 – 91 TCN), ông nội của Hán Tuyên Đế - vua thứ 10 nhà Hán.
    o Lưu Bác (劉髆; ?-86 TCN); tức Xương Ấp Ai vương, cha của Lưu Hạ - vua thứ 9 nhà Tây Hán
    o Lưu Hoành (劉閎; ? – 109 TCN), tức Tề Hoài vương
    o Lưu Đán (劉旦; ?-80 TCN), Yên vương, bị buộc tự sát.
    o Lưu Tư (劉胥; ?-53 TCN) Quảng Lăng vương, bị buộc tự sát
    o Lưu Phất Lăng (劉弗陵; 94-74 TCN), tức Hán Chiêu Đế - vua kế tục Vũ Đế.

    Nhận định

    Theo Sử Trung Quốc (1997) của Nguyễn Hiến Lê, triều đại ông được xem là là triều đại rực rỡ nhất của nhà Hán: uy quyền được củng cố, trong nước bình trị, bờ cõi được mở rộng, thương mại thịnh vượng nhờ khuếch trương, giao thiệp với các lân bang (nhất là Tây Vực) và văn học cũng phát triển.
    Về chính sách kinh tế

    Về chính sách kinh tế của ông, trong sách La civilisation Chinoise (Albin Michael, 1948), có lời nhận định:


    Chính sách đó thật cách mạng, nếu Vũ đế có tinh thần kiên trì thì ông... đã tạo nên quốc gia Trung Hoa trong một xã hội mới rồi... Nhưng ông chỉ biết nhìn cái lợi trước mắt, làm cái gì gấp nhất, dùng những phương tiện để giải quyết từng lúc một, xong rồi lại bỏ đi, chỉ dùng những người mới một thời gian, hễ họ thành công, uy tín tăng lên có thể lấn át ông được là ông hi sinh họ liền. Tính đa nghi của một ông vua chuyên chế, óc thiển cận của bọn quan lại lập pháp tại triều khiến cho Trung Hoa bỏ lỡ cơ hội hiếm nhất đó.


    Poster




    thay đổi nội dung bởi: Forly, 10-05-2010 lúc 06:40 PM

  3. #3
    Forly's Avatar
    Forly vẫn chưa có mặt trong diễn đàn (¯`·Tương Tư Biệt·´¯) ★ Quá khứ chỉ là hồi ức ✿ ^Leaving U^ ♥I'll always miss Qღ

    Tham gia ngày
    Jan 1970
    Địa chỉ
    hữu hạn vô thường
    Bài gởi
    3,517
    Blog Entries
    14

    Mặc Định


    Hán Vũ Đế II


    Sản xuất : 2003
    Thời lượng : 40 tập
    Đạo diễn : Đổng Lực
    Diễn viên và vai diễn
    Huỳnh Hiểu Minh -- Hán Vũ Đế
    Ninh Tĩnh -- Vệ Tử Phu
    Lưu Vân -- Thu Thiền
    Đổng Dũng -- Vệ Thanh
    Lưu Hiểu Hổ -- Quý An Thế
    Hà Giai Di -- Trần A Kiều & Lý Oa
    Vương Cương -- Chủ Phụ Yển
    A Mẫn Cổ Lệ - Tuyết Liên
    Đỗ Thuần -- Lý Dũng
    Lý Lập -- Hoắc Khứ Bệnh
    Dương Hồng Vũ -- Cấp Ảm
    Triệu Tiểu Nhuệ -- Hồn Tà vương
    Hồ Quang Tử -- Lý Quảng Lợi
    Quan Thiếu Tằng -- Điền Phẫn
    Chu Nhã Na -- Át Thị Mã Lan

    Poster



    thay đổi nội dung bởi: Forly, 10-05-2010 lúc 06:12 PM

  4. #4
    Forly's Avatar
    Forly vẫn chưa có mặt trong diễn đàn (¯`·Tương Tư Biệt·´¯) ★ Quá khứ chỉ là hồi ức ✿ ^Leaving U^ ♥I'll always miss Qღ

    Tham gia ngày
    Jan 1970
    Địa chỉ
    hữu hạn vô thường
    Bài gởi
    3,517
    Blog Entries
    14

    Mặc Định

    Hán Vũ Đế III


    Sản xuất : 2005
    Đạo diễn : Phạm Tú Minh
    Thời lượng : 48 tập
    Diễn viên và vai diễn
    Huỳnh Hiểu Minh vai Hán Vũ Đế
    Như Bình -- Vệ Tử Phu
    Tôn Hải Anh -- Giang Sung
    Lý Phi -- Thu Thiền
    An Dĩ Hiên -- Hoắc Kỳ Liên
    Triệu Dập Dương -- Lưu Cư
    Hùng Nãi Cẩn -- công chúa Vệ Trưởng
    Lưu Quan Lân -- Quý Cầm Hổ
    Cao Hạo -- Lý Hán
    Ô Sảnh Sảnh -- Vương thái hậu
    Bách Nghiên An -- Triệu Ny Tử ( Câu Dặc phu nhân )
    Đổng Dũng -- Vệ Thanh
    Chu Dĩnh -- Lưu Tế Quân
    Tường Tử -- Vương Ấn
    Trần Lệ Lệ -- công chúa Tử Vy
    Từ Thiếu Cường -- Hồn Tà vương



    Poster





    thay đổi nội dung bởi: Forly, 10-05-2010 lúc 06:19 PM

  5. #5
    Tham gia ngày
    Jan 1970
    Bài gởi
    3,245

    Mặc Định

    do Dawn



    P1



  6. #6
    Tham gia ngày
    Jan 1970
    Bài gởi
    3,245

    Mặc Định

    do dawn gửi



    Đây là tấm hình với Lý Oa


    Còn đây là "chị" Ninh Tịnh



    thay đổi nội dung bởi: Forly, 10-05-2010 lúc 04:32 PM

  7. #7
    Tham gia ngày
    Jan 1970
    Bài gởi
    3,245

    Mặc Định

    do dawn gửi

    Vương Ling vai Vệ Tử Phu



    Mình thấy phần 1, Lưu Triệt còn trẻ, hành xử phóng khoáng hơn nên làm người xem cảm thấy dễ chịu. Còn sang phần 2 thì Lưu Triệt đã trở thành một vị vua anh minh, văn võ song toàn (và tất nhiên là cũng tự cao hơn phần 1), chính vì thế mà làm người xem cảm thấy sợ hãi hơn. Còn phần 3 mình chưa coi nhưng mình có xem cái clip của phần 3. Mình thấy phần này dàn dựng rất tốt nhưng mà sẽ đau lòng hơn cả phần 2 và phần 1.


    Đây là bản opening của phần 3
    http://www.youtube.com/watch?v=j16Kv...ao%20Ming% 22

    Đây là vài tấm hình trong Đại Hán thiên tử 3



    [
    thay đổi nội dung bởi: Spring Love, 03-07-2007 lúc 09:58 PM

  8. #8
    Tham gia ngày
    Jan 1970
    Bài gởi
    3,245

    Mặc Định

    do dawn gửi


    p1



    do metavana gửi
    Đây là phần viết về Võ đế trong cuốn lịch sử TH, các bạn tham khảo nhé

    Võ đế
    Ông là con Cảnh đế mà tính tình khác hẳn cha, ở ngôi rất lâu, 53 năm (-140-87). Độc tài, nóng nảy, cương quyết, nhiều tham vọng, nhưng cũng rất nhiều mưu lược tài năng, rất sùng Nho học, không theo chính sách ít can thiệp vào việc dân (vô vi) của Lão, như ông cha, mà ưa đạo thần tiên (Đạo giáo) như Cao Tổ, Tần Thủy Hoàng. Cơ hồ bọn vua độc tài thời đó đều muốn trường sinh bất tử cả.
    Thấy đời vua cha, bọn thất vương làm phản, ông quyết tâm bỏ hẳn chế độ phong kiến. Một mặt ông dùng thuật của Pháp gia để trị bọn chư hầu quí tộc (sai kẻ thân tín giúp việc họ để do thám họ, chặn mưu phản của họ và lần lần tước hết quyền hành, đất đai của họ); một mặt ông đề cao Khổng học, đặt ra chức ngũ kinh, bác sĩ, tuyển dụng những kẻ tài năng như Công Tôn Hoằng, rồi lại thay đổi triều chính, sửa lại lịch, định lễ phong (tế trời) và thiền (tế đất), xây cất cung điện.
    Như vậy là ông dùng cả Pháp lẫn Nho mà hoàn thành được cuộc cách mạng về chính trị, củng cố được chính thể quân chủ chuyên chế: quyền hành tập trung vào cả triều đình và giao phó cho kẻ sĩ có tài năng do dân tiến cử và do nhà vua tuyển dụng. Bọn quí tộc, bọn “phụ huynh” (cha anh nhà vua) vẫn còn được hưởng nhiều đặc quyền, nhưng phải tuân lệnh vua và tể tướng. Chính sách tuyển nhân tài để trị dân đó, tiến bộ hơn châu Âu nhiều (châu Âu mãi tới thế kỉ XVIII mới theo kịp) hơn cả Ấn Độ. Chỉ ở Trung Hoa và Ấn Độ, giai cấp lãnh đạo là giai cấp trí thức; nhưng ở Ấn Độ, giai cấp đó gồm các tu sĩ (Bà-la-môn) chứ không phải là công chức (quan lại) như Trung Hoa, mà quan lại Trung Hoa do học hành, thi cử, chứ không do thế tập, hay do giai cấp mà nắm quyền hành. Thực ra quan lại Trung Hoa không phải là một giai cấp như ở Ấn, cha làm quan mà con dốt thì cũng chỉ là thường dân, thường dân mà học giỏi thì cũng được làm quan, còn các Bà-la-môn ở Ấn Độ thì sinh ra đã là Bà-la-môn, ở trong giai cấp cao rồi, mặc dầu có kẻ dốt nát, không chịu học vẫn là Bà-la- môn.

    Muốn diệt cái họa Hung Nô và mở mang thêm bờ cõi (coi ở sau) thì quân đội phải mạnh, quân luật phải nghiêm, và ông dùng chính sách của Pháp gia. Võ đế không tha thứ những tướng lỡ thua địch, không xét hoàn cảnh, tình thế của họ, cứ thẳng tay trừng trị, thành thử có nhiều tướng thua trận không dám về triều mà đành phải hàng địch. Thấy vậy, ông càng tàn nhẫn, tru di tam tộc (họ cha, họ mẹ, họ vợ) những tướng hàng địch, như trường hợp Lí Lăng. Không ai dám trái ý ông, chỉ tỏ vẻ bất mãn, bất phục cũng đủ cho ông trị tội rồi. Vì vậy không ai dám can gián. Tư Mã Thiên chỉ vì bênh vực Lí Lăng mà ông bắt chịu một tội nhục nhã nhất thời đó: tội bị thiến.
    Nhưng ông thưởng những tướng thắng trận cũng rất hậu: phải có quân công mới được phong tước hầu. Văn quan không ai được tước đó.
    Một điểm nữa ông chịu ảnh hưởng của Pháp gia là ông rất chuyên chế. Nho gia chỉ trung với ông vua có đủ tư cách, đáng cho mình thờ; nếu không thì có thể bỏ mà thờ ông vua khác, như Khổng Tử đã bỏ vua Lỗ. Chính pháp gia mới đưa ra quan niệm “trung thần bất sự nhị quân”. Hơn nữa họ trọng cái “thế” (quyền thế) của vua tới mức khiến vua hóa ra độc tài, bắt bề tôi chết thì không kể phải trái, bề tôi cũng phải chết, không chết thì không trung (quân xử thần tử, thần bất tử, bất trung). Từ Hán Võ đế trở đi, quan niệm đó được các vua chấp nhận, và hình như không có nhà Nho nào phản đối, mà nền quân chủ của Trung Hoa hóa ra chuyên chế, mặc dầu cũng có một số ông vua nhân từ, theo đúng đạo Khổng.

    Năm nào cũng chinh phạt, mà Võ đế lại xa xỉ, xây cất thêm nhiều cung thất, cho nên triều đình luôn luôn thiếu tiền. Muốn có tiền, ông dùng ba cách dưới đây:
    - phát hành một thứ tiền làm bằng hợp kim bạc và thiếc, như vậy trữ kim tăng lên; ông lại đặt ra một thứ tiền bằng da nữa,
    - bán tước và cho chuộc tội bằng tiền; Tư Mã Thiên vì nghèo, bạn bè không ai giúp, nên không chuộc tội được mà chịu nhục suốt đời,
    - tuyên bố bao nhiêu tài nguyên trong nước thuộc về quốc gia hết, như vậy “tư nhân không thể chiếm các nguồn lợi của núi, biến làm của riêng mà thao túng các giai cấp thấp hơn”.
    Triều đình giữ độc quyền cất và bán rượu, độc quyền làm muối, khai thác các mỏ sắt, năm -119 đặt ra chức quan coi về sắt, muối, gọi là diêm thiết quan.
    Vấn đề độc quyền sắt, muối không phải chỉ là một vấn đề kinh tế, mà còn là một vấn đề chính trị, gây một sự tranh luận sôi nổi giữa phái theo Nho và phái theo Pháp (Pháp trị), tôi sẽ xét thêm ở sau.
    Nhưng ông có sáng kiến diệt bọn trung gian đầu cơ, bọn cho vay nặng lãi hoặc chứa cất hàng hóa khi giá rẻ rồi bán cho dân khi giá đắt.
    Ông tổ chức một cơ quan chuyên chở và trao đổi thuộc quyền quốc gia, kiểm soát chặt chẽ thương mãi để giá cả khỏi thình lình lên xuống. Trong khắp đế quốc đâu đâu cũng có những nhân viên của triều đình lo việc chuyên chở và giao hàng. Lúc nào dư sản phẩm thì triều đình giữ lại, đợi lúc giá tăng thì đem bán rẻ cho dân, hễ giá xuống thì lại mua vào để trữ; như vậy “bọn phú thương không đầu cơ mà vơ được những món lợi lớn... và giá được bình lại.” Người ta ghi sổ tất cả những lợi tức của họ để thâu thuế hàng năm là 5%.
    Ông lại cho khởi công nhiều công tác lớn để cho hàng triệu thợ bị các xí nghiệp tư sa thải có công ăn việc làm, khỏi thất nghiệp: bắt cầu qua sông, đào nhiều kinh để nối các con sông với nhau và để dẫn nước vô ruộng.
    Marcel Granet, trong cuốn La civilisation Chinoise (Albin Michel, 1948) bảo: “Chính sách đó thật cách mạng. Nếu Võ đế có tinh thần kiên trì thì ông... đã tạo nên quốc gia Trung Hoa trong một xã hội mới rồi...Nhưng ông chỉ biết nhìn cái lợi trước mất, làm cái gì gấp nhất, dùng những phương tiện để giải quyết từng lúc một, xong rồi thì bỏ đi, chỉ dùng những người mới một thời gian, hễ họ thành công, uy tín tăng lên có thể lấn át ông được là ông hi sinh họ liền. Tính đa nghi của một ông vua chuyên chế, óc thiển cận của bọn quan lập pháp tại triều khiến cho Trung Hoa bỏ lỡ cơ hội hiếm nhất đó.”
    Sau mấy trận lụt xen với mấy cơn đại hạn kéo dài, vật giá tăng vọt lên, dân chúng la ó, đòi trở lại chế độ cũ, bọn kinh doanh bất bình vì triều đình can thiệp vào công việc của họ, thuế má nặng quá, không còn làm ăn gì được; lại thêm bọn cung phi được sủng ái lấn át các đại thần, nên khi Võ đế băng rồi, nạn tham nhũng lan tràn khắp nước, sự bóc lột kẻ nghèo yếu bắt đầu trở lại, và trong non một thế kỉ, những cải cách của ông bị chê bai.
    Nhưng ai cũng nhận rằng triều đại Võ đế là triều đại rực rỡ nhất của nhà Hán: uy quyền được củng cố, trong nước được bình trị, bờ cõi được mở mang (sẽ nói rõ ở sau), thương mãi thịnh vượng nhờ khuếch trương, sự giao thông (đào kinh), nhờ liên lạc với các nước láng giềng, nhất là Tây Vực, miền ông mới chiếm được, mà văn học cũng phát triển (sẽ xét ở sau) nhờ ông trọng những nhà Nho như Đổng Trọng Thư, và thích bọn văn nhân có tài làm phú ca tụng ông như Tư Mã Tương Như.

  9. #9

    Mặc Định

    by Aster
    Nguyên văn bởi Dawn
    Trùi, nhìn kiểu này chắc không coi phần 3 đâu. Nhìn H2M để râu thấy mất phong độ quá. Mình chỉ thích ảnh đóng trong phần 1 mà thui. Ở phần ảnh đẹp quá trời!
    Ừm, As cũng thích phần I nhất. Lúc đó Lưu Triệt từ thái tử mới bước lên làm hoàng đế, tuổi còn trẻ, hành xử có phần phóng khoáng, tự do tự tại hơn ở phần II, khi đã làm hoàng đế một thời gian rồi trở nên cố chấp, đa nghi quá, còn phần III thì gắn thêm râu mất cảm tình làm sao ấy (tuy đó là điều bắt buộc vì Hán Võ Đế lúc này phải già hơn hai phần trước). Thêm vào đó, phần I có nhân vật Đông Phương Sóc của Trần Đạo Minh, nhân vật này vô cùng đặc sắc, trí tuệ hơn người thật đáng ngưỡng mộ; phần II tuy có "lão mỏ vịt" Chủ Phụ Uyển do Vương Cương đóng cũng rất hay nhưng vẫn thích phong thái điềm đạm của Đông Phương tiên sinh hơn.


    by moonbunny

    Vệ Tử Phu của Vương Linh trong phần 1 không phải thuộc hàng sắc nước hương trời nhưng nhìn dịu dàng, đằm thắm, rất nữ tính nhưng cũng rất kiên cường --> đáng yêu vô cùng & ... cũng rất xứng với Lưu Triệt - HHM

    Sang phần 2, bản thân Ninh Tịnh nhìn đã chững hơn HHM rồi, cộng thêm tạo hình nữa nên trông già hơn hẳn HHM --> giống 2 chị em hơn là vợ chồng Ninh Tinh thể hiện 1 bà hoàng hậu nhân từ phải biết. >< Phần 2 này coi lúc đc lúc ko (bởi busy quá) nên ko đánh giá đc toàn diện. Chỉ bực mình cái bà đóng công chúa Kiều... gì đó (quên béng nó tên) sang phần 2 lại tiếp tục xuất hiện. Trời ơi, đã xấu mà còn xí (xọn) nữa. Nhưng đóng mà để người ta ghét thì là thành công rồi.

    Phần 3 --> chưa xem, chưa biết nhưng ... bộ râu của Hoàng đế nhìn "đểu đểu" Hoàng đế chắc cũng có tuổi òi, mà HHM thì chưa đến ngưỡng đó nên chắc thêm quả râu này cho có phần "chín chắn" Thui, chừng nào phim ra thì mọi người nhớ thông báo hỉ. :-*

  10. #10

  11. #11

    Mặc Định

    by cafechocolate-18-06-2006
    Phần 2 chỉ có Lý Oa là mình thấy ghét vừa già lại vừa xấu ko xừng với H2M
    by dawn- 19-06-2006
    Trong lịch sử nói Lý quý phi đẹp nghiêng nước nghiêng thành mà để cho bà này đóng thấy phản cảm quá chừng chừng. Trời ơi, bây giờ nhớ về phần 1 thấy đúng là hơi thất vọng. Vả lại, phần hai mình cũng không coi được nhiều.
    by silvermoon- 03-07-2006
    Nghe nói phần 3 thảm hơn nhiều, theo như lịch sử thì Lưu Triệt vì nghe theo lời gian thần (hình như là 1 tên đạo sĩ) đã làm con trai, vợ, cháu trai( con Vệ Thanh) phải tự sát, cuối cùng ông cũng nhận ra sai lầm nhưng quá muộn.
    by dawn -04-07-06
    Không phải chỉ con trai, vợ, cháu trai mà con giết luôn hai công chúa (tức là hai đứa con gái của ông). Hic hic. Thế là kết thúc mối tình Lưu Triệt - Vệ Tử Phu.

  12. #12

    Mặc Định

    Mình thích nhất là phần I, phần này hay, dàn diễn viên và diễn xuất cũng ổn nhất... HHM đã đóng rất đạt vai một vị vua hiếu thắng, ham chơi... Trong phim yêu rất nhiều người nào là Niệm Nô Kiều, Thu Thiềm, Hoàng hậu và Vệ Tử Phu (hình như còn nhưng mình không nhớ hết!!!). Nhưng mình thích nhất Vệ Tử Phu vừa dịu dàng, vừa hiền... Mối tình của Vệ Thanh và công chúa Bình Dương cũng rất cảm động... tiếc là cuối cùng công cháu Bình Dương die... Nhưng mình nhớ là lúc đầu Lưu Triệt yêu Niệm Nô Kiều, còn Vệ Tử Phu là người hầu... Không biết sau đó Lưu Triệt lại yêu Vệ Tử Phu nhỉ??? Bạn nào nhớ kể mình nghe với...
    thay đổi nội dung bởi: ida_1011, 20-11-2007 lúc 07:23 PM

  13. #13

    Mặc Định

    đây rõ ràng là phim Hán Vũ Đế đúng ko, nhìn hình thì thấy quen lắm nhưng chắn chắn ko phải phim Hán Vũ đế mà mình xem, phim chiếu buổi tối VTV1 cũng lâu rồi thì phải. hồi đó xem mà thương người vợ đầu, hoàng hậu đó, bị điên khi bị giam vào cung cấm, cả người thứ 2 cũng thế, sau chết già trong đau khổ. Liệu có phải là phim các bạn đang nói đến ko? chẳng nhẽ tui nhầm.

  14. #14

    Mặc Định

    Có ai biết chỗ nào ở Tp.HCM bán phần I thì làm ơn chỉ tui. Phim này (phần I) là 1 trong 2 sự nuối tiếc lớn của tui với phim ảnh vì hồi xưa đi làm nên ko xem được mà cái công ty chết tiệt đó lương bèo, điều kiện làm việc tồi tệ. Còn phim kia là bộ phim truyền hình có lẽ là đầu tiên của TQ chiếu ở kênh Bình Dương diễn viên nữ là Từ Tịnh Lôi. Phim đó nói về 2 anh em yêu 1 cô gái, người anh thì vừ ra tù về ở nhà người em nên quen cô bạn gái của người em. Ai biết thông tin gì về phim đó thì cho tui biết luôn nha.

  15. #15

    Mặc Định Lưu Triệt

    Mình cũng thích phần 1 nhất, Huỳnh Hiểu Minh thể hiện vai thái tử Lưu Triệt rất đáng yêu, hơn nữa do mình vốn thích Trần Đạo Minh nên càng mê phim này, Giả Tịnh Văn cũng rất xinh.

Trang 1/14 1234511 ... Trang CuốiTrang Cuối

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Đánh Dấu

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • Bạn không được quyền tạo chủ đề mới
  • Bạn không được quyền gửi bài trả lời
  • Bạn không được quyền gửi tập tin đính kèm
  • Bạn không được quyền chỉnh sửa bài viết
  •