kết quả từ 1 tới 6 trên 6
Ðề tài: [ĐD] Akira Kurosawa
-
19-12-2008, 12:04 PM #1
- Tham gia ngày
- Jan 2008
- Địa chỉ
- Trong làn khói thuốc..
- Bài gởi
- 4,029
- Blog Entries
- 8
[ĐD] Akira Kurosawa
Kurosawa Akira (tiếng Nhật: 黒澤 明) (sinh ngày 23 tháng 3 năm 1910, mất ngày 6 tháng 9 năm 1998) là đạo diễn, nhà sản xuất và biên kịch xuất chúng của điện ảnh Nhật Bản. Bộ phim đầu tiên của ông Sugata Sanshiro ra đời năm 1943 còn bộ phim cuối cùng Madadayo được làm đúng nửa thế kỷ sau đó vào năm 1993. Ông đã được tặng rất nhiều giải thưởng cao quý trong đó có huân chương Bắc đẩu bội tinh của Nhà nước Pháp và Giải Oscar Thành tựu trọn đời.

Tiểu sử
Akira Kurosawa sinh ngày 23 tháng 3 năm 1910 tại Ota, Tokyo, Nhật Bản trong một gia đình tương đối khá giả, bố ông là Kurosawa Isamu còn mẹ là bà Kurosawa Shima. Khi sinh Kurosawa, bà Shima đã 40 tuổi còn ông Isamu đã 45 tuổi, Akira là con út trong số 8 anh chị em. Bố của Kurosawa là hiệu trưởng một trường cấp II của quân đội Nhật và có dòng dõi từng là samurai. Ông Kurosawa Isamu ủng hộ văn hóa phương Tây, ông đưa cả nhà đi xem phim, vào thời điểm đó mới bắt đầu xuất hiện ở Nhật Bản, ông cho rằng những bộ phim này có tác dụng giáo dục tốt.
Ở trường phổ thông Kurosawa Akira được khuyến khích tập vẽ. Người có ảnh hưởng sâu sắc tới ông trong thời kỳ này là Heigo, anh trai của Akira, một người thông minh và từng giành vài giải thưởng về học tập. Năm 1923, trận động đất Great Kantō đã phá hủy thành phố Tokyo và làm 100.000 người chết. Sau trận động đất, Heigo, 17 tuổi và Akira, 13 tuổi đi một vòng quanh thành phố để chứng kiến cảnh hoang tàn, xác người và xác thú vật chất đầy ở khắp mọi nơi, khi Akira định quay đầu đi để khỏi phải nhìn thấy những cảnh đó, Heigo đã thuyết phục cậu không làm như vậy. Theo Akira, kinh nghiệm này đã chỉ ra cho ông rằng nhìn thẳng vào một cảnh tượng kinh khủng chính là loại trừ khả năng nó gây ra nỗi sợ hãi cho chính mình.
Sau đó Heigo trở thành một người thuyết minh phim (benshi) cho các rạp phim ở Tokyo, đó là nghề lồng tiếng cho những bộ phim câm và nó chỉ có ở Nhật Bản. Tuy nhiên sau đó những bộ phim có tiếng bắt đầu thịnh hành và các benshi như Heigo rơi vào cảnh mất việc, anh tổ chức một cuộc phản đối của các benshi nhưng thất bại. Akira cũng tham gia vào những cuộc xung đột giữa giới chủ và giới thợ thuyền, anh viết vài bài báo trên các tờ báo có quan điểm cấp tiến đồng thời cũng luyện tập nghề họa sĩ và đọc thêm các tác phẩm văn học. Tuy vậy Akira chưa bao giờ coi mình là một người Cộng sản và sau này ông mô tả đó chỉ là những hành động nông nổi nhất thời.
Khi Kurosawa bước sang tuổi 20 thì anh trai Heigo của ông tự vẫn, 4 tháng sau đó đến lượt người anh cả của Akira cũng qua đời và ông trở thành đứa con trai duy nhất còn sống của nhà Kurosawa.
Sự nghiệp
Năm 1936 Kurosawa tham gia một khóa học làm đạo diễn tại một hãng phim lớn, hãng PCL (sau này là hãng phim Toho). Ông được tuyển dụng và trở thành trợ lý đạo diễn cho Kajiro Yamamoto. Sau tác phẩm đầu tay Sanshiro Sugata, những bộ phim tiếp theo do ông đạo diễn được làm dưới sự giám sát chặt chẽ của chính phủ Nhật thời chiến và đôi khi mang những chủ đề dân tộc chủ nghĩa. Một ví dụ là bộ phim The Most Beautiful được coi là bộ phim tuyên truyền cho việc phụ nữ Nhật tham gia lao động cho các nhà máy quân sự.
Tuy nhiên, ngay ở tác phẩm đầu tiên sau chiến tranh của ông, bộ phim No Regrets for Our Youth, Kurosawa đã chỉ trích chế độ cũ của Nhật Bản với câu chuyện của một người vợ có chồng là nhà hoạt động cánh tả bị chính quyền bắt vì niềm tin chính trị của mình. Kurosawa còn làm một số bộ phim khác về đề tài Nhật Bản hiện đại, đáng chú ý nhất là Drunken Angel và Stray Dog. Tuy nhiên bộ phim mang lại danh tiếng quốc tế cho Akira lại là Rashomon, một bộ phim có đề tài lịch sử và đã giành giải Sư tử vàng tại Liên hoan phim Venice.
Trong giai đoạn làm nhiều phim nhất, từ cuối thập niên 1940 đến giữa thập niên 1960, Kurosawa thường cộng tác với một số người nhất định. Hayasaka Fumio sáng tác nhạc cho 7 phim của ông, trong đó có Rashomon, Ikiru và Seven Samurai. Nhiều kịch bản phim như Throne of Blood, Seven Samurai và Ran được ông viết cùng Oguni Hideo. Muraki Yoshiro là chỉ đạo nghệ thuật cho phần lớn các phim của Kurosawa từ sau Stray Dog (1949) còn Nakai Asakazu đã quay cho Kurosawa tới 11 phim trong đó có Ikiru, Seven Samurai và Ran. Kurosawa cũng thường làm việc với các diễn viên như Shimura Takashi, Nakadai Tatsuya và Mifune Toshiro. Sự cộng tác giữa Kurosawa và Mifune bắt đầu từ bộ phim Drunken Angel (1948) và kết thúc là bộ phim năm 1965, Red Beard, là một trong những sự cộng tác giữa đạo diễn và diễn viên nổi tiếng nhất trong lịch sử điện ảnh.
Bộ phim Red Beard đánh dấu bước ngoặt trong sự nghiệp đạo diễn của Kurosawa khi đây là bộ phim cuối cùng ông làm với diễn viên Mifune Toshirō và cũng là bộ phim đen trắng cuối cùng của ông. Sau đó Kurosawa ký hợp đồng với hãng 20th Century Fox để làm bộ phim Tora! Tora! Tora! cho Hollywood nhưng cuối cùng ông lại bị thay thế bởi Masuda Toshio và Fukasaku Kinji. Các bộ phim tiếp theo của Kurosawa thường rất khó tìm được nguồn tài chính và thường phải làm ròng rã trong nhiều năm. Bộ phim đầu tiên trong số này, Dodesukaden, một tác phẩm về những người nghèo khổ sống ở bãi rác, đã không thành công.
Sau lần tự tử không thành, Kurosawa tiếp tục làm phim dù vẫn rất khó khăn trong việc tìm nguồn tài chính trong nước cho dù ông đã là một đạo diễn nổi tiếng thế giới. Dersu Uzala (1975), được làm tại Liên Xô với bối cảnh là vùng Siberi vào đầu thế kỷ 20 là bộ phim duy nhất của Kurosawa được làm bên ngoài Nhật Bản và không dùng tiếng Nhật. Tác phẩm này đã giành giải Oscar cho Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất. Một bộ phim khác của ông, Kagemusha, lại được đầu tư bởi những người ngưỡng mộ Kurosawa, đó là hai đạo diễn nổi tiếng George Lucas và Francis Ford Coppola. Còn Ran (1985), một chuyển thể của Akira từ tác phẩm nổi tiếng Vua Lear, lấy bối cảnh là Nhật Bản thời xưa, chỉ được hoàn thành với sự giúp đỡ của nhà sản xuất người Pháp Serge Silberman. Đây cũng là dự án điện ảnh lớn nhất của Kurosawa và ông phải mất cả một thập kỷ để lên kế hoạch và tìm nguồn tài chính, bộ phim thành công lớn và được coi là tác phẩm lớn cuối cùng của Kurosawa. Trong một lần trả lời phỏng vấn, Akira đã nói rằng Ran là bộ phim hay nhất ông đã từng làm.
Trong thập niên 1990 Kurosawa làm thêm 3 bộ phim nữa là Dreams, Rhapsody in August và Madadayo. Kurosawa qua đời sau một cơn đột quỵ ở Tokyo vào tuổi 88.
After the Rain (1998) là bộ phim được phát hành sau khi ông qua đời, bộ phim được đạo diễn bởi cộng sự thân thiết nhất của Kurosawa là Koizumi Takashi và có sự tham gia của Mifune Shiro (con trai của Toshiro). Kịch bản và lời thoại của bộ phim này đều do Kurosawa viết trước khi mất.Hãy tìm em bất cứ khi nào anh thèm thuốc
-
19-12-2008, 12:05 PM #2
- Tham gia ngày
- Jan 2008
- Địa chỉ
- Trong làn khói thuốc..
- Bài gởi
- 4,029
- Blog Entries
- 8
Phong cách làm phim
Nội dung
Rất nhiều phim của Kurosawa được lấy cảm hứng từ các tác phẩm văn học nổi tiếng, đặc biệt là từ các tác phẩm của William Shakespeare: Ran dựa theo Vua Lear, Throne of Blood dựa theo Macbeth còn The Bad Sleep Well dựa theo Hamlet. Kurosawa còn đạo diễn những phim chuyển thể trực tiếp từ các tác phẩm văn học Nga, trong đó có phim Thằng ngốc (1951) chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của Dostoevsky, bộ phim Dưới đáy (1957) chuyển thể từ vở kịch của Maxim Gorky, bộ phim Ikiru dựa theo tác phẩm của Lev Nikolayevich Tolstoy - Cái chết của Ivan Ilyich.
Mặc dù phải nhận nhiều chỉ trích cho rằng tác phẩm của Kurosawa quá "Tây", những bộ phim của Akira vẫn cho thấy ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Nhật như Kabuki, kịch Noh.
Khi Kurosawa gặp đạo diễn huyền thoại John Ford, người được cho là có ảnh hưởng nhiều nhất tới các sáng tác của Akira, Ford chỉ nói đơn giản: "Anh thực sự thích mưa đấy nhỉ.", Kurosawa trả lời "Ông rất quan tâm tới các bộ phim của tôi đấy."
Kỹ thuật
Kurosawa có kỹ thuật quay phim rất khác biệt. Ông ưa thích sử dụng máy quay từ xa để làm các cảnh quay trở nên phẳng, Akira cũng tin rằng việc để máy quay xa sẽ giúp các diễn viên diễn xuất tốt hơn. Kurosawa còng thích dùng nhiều máy quay cho cùng một cảnh phim, giúp ông có thể quay một hành động từ nhiều góc quay khác nhau. Một đặc điểm nữa trong phim của Kurosawa là việc sử dụng các yếu tố thời tiết để nhấn mạnh tâm trạng nhân vật, ví dụ như mưa nặng hạt trong cảnh đầu phim Rashomon và trận chiến cuối cùng trong Seven Samurai, cái nóng dữ dội trong Stray Dog, gió lạnh trong Yojimbo, tuyết trong Ikiru và sương mù trong Throne of Blood.
Kurosawa có biệt danh "Tenno", có nghĩa là "Hoàng đế", biệt danh này đã miêu tả phong cách đạo diễn độc tài của ông. Là người cầu toàn, ông dành rất nhiều thời gian và nỗ lực cho việc đạt được hiệu quả hình ảnh mong muốn. Trong Rashomon, Akira thậm chí còn dùng mực Tàu nhuộm nước mưa để tạo hiệu quả mưa nặng hạt, cảnh phim này cũng tiêu tốn tất cả lượng nước dự trữ xung quanh. Còn trong phim Throne of Blood, ở cảnh kết phim khi nhân vật do Mifune đóng bị trúng tên, Kurosawa đã dùng những mũi tên thật được những xạ thủ chuyên nghiệp bắn ở tầm gần và chỉ cách người của Mifune có vài phân. Còn trong phim Ran, cả một toàn lâu đài đã được xây dựng ở sườn núi Phú Sĩ chỉ để sau đó bị đốt cháy trong cảnh cao trào của phim.
Tính cầu toàn của Kurosawa còn được thể hiện qua cách ông xử lý phục trang cho nhân vật: ông cảm thấy rằng một bộ phục trang mới sẽ làm nhân vật của mình trông không thật, vì vậy Akira thường giao trang phục cho diễn viên vài tuần trước khi quay và yêu cầu những người này mặc hàng ngày để làm những bộ trang phục này trông vừa vặn hơn với họ. Trong vài trường hợp, ví dụ trong bộ phim Seven Samurai khi phần lớn nhân vật là những nông dân nghèo, các diễn viên đã được yêu cầu mặc làm sao cho phục trang của họ trở nên rách rưới vào thời điểm khởi quay.
Ảnh hưởng
Những bộ phim của Kurosawa đã có ảnh hưởng lớn tới điện ảnh thế giới và tạo cảm hứng cho nhiều đạo diễn và tác phẩm ở nhiều nền điện ảnh khác nhau.
Bộ phim Seven Samurai của Akira đã được làm lại vài lần trong nhiều thể loại khác nhau như phim cao bồi, phim khoa học viễn tưởng, phim võ thuật. Những tác phẩm chính bao gồm:
- The Magnificent Seven (1960, đạo diễn John Sturges)
- Beach of the War Gods (1973)
- Battle Beyond the Stars (1980)
- World Gone Wild (1988, đạo diễn Lee Katzin)
Ngoài ra còn vài bộ phim lấy ý tưởng từ truyện phim của Seven Samurai như Three Amigos và A Bug's Life. Một tiểu thuyết của Stephen King, Wolves of the Calla cũng có cốt truyện tương tự bộ phim này của Kurosawa.
Rashomon đã được làm lại năm 1964 với tên The Outrage đạo diễn bởi Martin Ritt. Mới đây nhất bộ phim Anh hùng (Hero) của đạo diễn Trương Nghệ Mưu cũng có truyện phim tương tự Rashomon.
Một bộ phim khác của Akira, The Hidden Fortress đã có ảnh hưởng đến tác phẩm nổi tiếng của George Lucas Chiến tranh giữa các vì sao, đặc biệt là phần 4 (A New Hope) và phần 6 (Return of the Jedi) và hai nhân vật R2-D2 và C-3POHãy tìm em bất cứ khi nào anh thèm thuốc
-
19-12-2008, 12:05 PM #3
- Tham gia ngày
- Jan 2008
- Địa chỉ
- Trong làn khói thuốc..
- Bài gởi
- 4,029
- Blog Entries
- 8
Tác phẩm
(xem hình dưới)


Giải thưởng
1951 – Giải Sư tử vàng của Liên hoan phim Venice cho Rashomon
1951 – Giải danh dự Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất tại lễ trao giải Oscar cho Rashomon
1955 – Giải Sư tử bạc của Liên hoan phim Venice cho Seven Samurai
1975 – Giải Oscar Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất cho Dersu Uzala
1980 – Giải Cành cọ vàng tại Liên hoan phim Cannes cho Kagemusha
1982 – Giải Sư tử vàng cho thành tựu trọn đời tại Liên hoan phim Venice
1984 – Huân chương Bắc đẩu bội tinh (Legion d'Honneur) của Nhà nước Pháp
1990 - Giải thưởng văn hóa Fukuoka Asian Culture Prize
1990 – Giải Oscar danh dự Thành tựu trọn đời
2006 – Giải thưởng đặc biệt tại Liên hoan phim Iran lần thứ 10
Cuộc sống riêng
Vợ của Kurosawa là bà Yaguchi Yoko. Hai người có một con trai tên là Hisao và một con gái là Kazuko.
Kurosawa nổi tiếng là người ham mê ẩm thực, ông dành rất nhiều tiền trong ngân quỹ làm phim để mua thức ăn ngon cho diễn viên và đoàn làm phim. Tuy nhiên lượng lớn thịt được ông mua cho phim là để tạo hiệu quả âm thanh cho những trận đấu kiếm trong phim
Akira có một người bạn thân là đạo diễn Honda Ishiro, đạo diễn của loạt phim nổi tiếng Godzilla.
Chuyện ngoài lề
- Kurosawa xuất hiện trong bài hát La Vie Boheme của vở nhạc kịch Broadway Rent.
- Kurosawa cũng được nhắc đến trong bài hát của nhóm Barenaked Ladies, One Week.
Nguồn: vi.wikipedia.orgHãy tìm em bất cứ khi nào anh thèm thuốc
-
19-12-2008, 12:06 PM #4
- Tham gia ngày
- Jan 2008
- Địa chỉ
- Trong làn khói thuốc..
- Bài gởi
- 4,029
- Blog Entries
- 8
Rashomon - Bộ phim đảo lộn mọi chuẩn mực
Trong năm 1950, Kurosawa thực hiện 2 bộ phim: Chuyện xấu và Rashomon. Nếu Chuyện xấu không hề để lại dấu ấn gì; thì Rashomon được xem là tác phẩm định mệnh, đưa Kurosawa lên ngôi "hoàng đế" - cách mà người ta vẫn thường gọi ông.
Rashomon được Kurosawa và Hashimoto viết kịch bản theo hai truyện ngắn của nhà văn cổ điển Nhật Bản Akitagawa Ryunosuke. Các chi tiết của nội dung hai truyện ngắn đã được đạo diễn hòa quyện trong một cấu trúc với phần giáo đầu (prologue) và phần vĩ thanh như trong sân khấu cổ, mà hành động xảy ra ở ngôi đền Rashomon hoang phế giữa cơn mưa tầm tã trong một nước Nhật bị tàn phá bởi dịch bệnh và cướp bóc vào thế kỷ 15.
Vào năm bộ phim ra đời, Rashomon hoàn toàn không hưởng được sự trân trọng mà người ta dành cho nó như sau này. Kiệt tác đầy tham vọng về tư tưởng và nghệ thuật của Kurosawa đã gánh lấy một thất bại thảm hại về mặt doanh thu, khiến uy tín nghề nghiệp của ông bị giảm sút ghê gớm. Các phòng chiếu thưa khách. Và sau một thời gian ngắn vớt vát, người ta "cho" Rashomon vào kho. Lý do lớn nhất là khán giả không "hiểu" được bộ phim, cũng như không chia sẻ được lối kể chuyện không theo "truyền thống" của tác giả. Điều đó khiến Kurosawa mất tinh thần. Ông lui về nhà, giải sầu bằng cách đi câu cá.
Nhưng một bất ngờ đã làm thay đổi số phận của Rashomon và người khai sinh ra nó. Có một phái đoàn Ý đến Nhật, đề nghị được xem những phim hay nhất và dở nhất của năm. Trong số các bộ phim dở nhất, người ta đã đem ra Rashomon. Nhưng các vị khách Ý lại đặc biệt quan tâm đến bộ phim "vứt đi" này, và đề nghị đưa phim đi dự LHP Venise 1951. Rashomon đã được giới phê bình cũng như khán giả phương Tây nồng nhiệt đón nhận. Sự xuất hiện của Rashomon đã là một hiện tượng. Họ đặc biệt quan tâm đến lối kể chuyện mới mẻ và hiện đại của tác giả, so sánh cấu trúc của nó với nền hội họa hiện đại.
Liên tiếp gặt hái thành công
Thành công của Rashomon đã giúp ông lấy lại được tinh thần cho bộ phim tiếp theo. Lần này, cùng với Aijiro Hisaita, ông thực hiện phim Thằng ngốc theo tiểu thuyết của Dostoievski - một bộ phim mà một số nhà phê bình cho là "chuyển thể tốt nhất của Dos... Và ngay cả khi không hiểu một tiếng Nhật nào, người ta cũng bị thôi miên suốt trong 2, 3 tiếng đồng hồ..."
Tiếp theo là bộ phim Sống - một bộ phim hiện thực xã hội, khiến giới phê bình quốc tế phát hiện ra thêm một phong cách khác ở nhà đạo diễn thiên tài này, một cái gì đó không giống như những gì họ đã nhìn thấy ở Rashomon. Sống được trao giải Con gấu Bạc ở LHP Berlin.
Một năm sau, Kurosawa lại tung ra một tác phẩm gây chấn động khác: phim Bảy võ sĩ đạo - giải Sư tử Bạc LHP Venise 1955. Bộ phim trình chiếu đã thu hút sự chú ý của khán giả khắp nơi trên thế giới, đến nỗi đạo diễn Mỹ John Sturges chỉ cần dưa vào đó, chuyển bối cảnh sang Mỹ vào thế kỷ 19, thế là Bảy võ sĩ đạo đã trở thành Bảy tay súng oai hùng (1960).
Sau Bảy võ sĩ đạo, Kurosawa tiếp tục làm phim theo thể loại Jidal-geki (phim lịch sử) như Ngai vàng đẫm máu (khiến người ta liên tưởng đến Macbeth của Shakespeare nhưng trong bối cảnh Nhật Bản vào thế kỷ 16) và Pháo đài bị chôn vùi. Cả hai phim đều đoạt các giải thưởng quốc tế lớn.
Dodesukaden - Bộ phim màu đầu tiên của Kurosawa
Được thực hiện vào năm 1970, Dodesukaden (Tiếng xình xịch của tàu điện ngầm) cho thấy cái nhìn u ám của Kurosawa về xã hội mà ông đang sống. Bằng một gam màu nhạt thếch, đôi lúc gay gắt, chói mắt, ông đã vẽ nên cái thế giới mà đối với ông là hiện thực nhất của cuộc sống. Chính vì thế Dodesukaden hoàn toàn không phù hợp chút nào với hình ảnh một nước Nhật cường quốc mà người ta đang ra sức thổi phồng, thậm chí dưới mắt một số người, bức tranh ảm đạm mà tác giả đã vẽ nên là một phản ánh tiêu cực và "phản động". Dodesukaden đã hoàn toàn thất bại về doanh thu, như Rashomon dạo nào. Quá thất vọng và đau khổ, ngày 22/12/1971, Kurosawa đã tự vẫn. May mắn thay, ông được cứu sống, kể từ đó, cuộc đời sáng tác của ông chuyển sang một hướng khác.
Làm phim với sự trợ giúp của bạn bè nước ngoài
Những bộ phim nổi tiếng và đoạt nhiều giải thưởng như Dersu Uzala, Kaghemusha (Bóng người chiến sĩ) và Ran (Thời hỗn mang) đều có sự giúp sức của bạn bè và các hãng phim nước ngoài, như Mosfilm tạo điều kiện thuận lợi để Kurosawa thực hiện Dersa Uzala, Kaghemusha được sự giúp sức của hãng 20th Century và các đạo diễn lừng danh như Francis Coppola, George Lucas, Steven Spielberg...
Kiệt tác Kaghemusha được thực hiện trong sự gian truân. Kịch bản được Kurosawa đưa đến hãng Toho, nhưng cứ bị trả đi rồi lấy về trong suốt 4 năm trời, bởi nếu thực hiện theo đúng ý đồ của Kurosawa thì chi phí của phim sẽ là một kỷ lục. Trong lúc chờ đợi câu trả lời của các hãng phim trong nước, Kurosawa bắt đầu thực hiện bộ phim của mình bẳng những hình vẽ. Và khi Toho trả lời rằng không thể thực hiện vì chi phí quá lớn thì ông đã vẽ được 250 cảnh (khoảng nửa bộ phim). Qua các hình vẽ, các chuyên viên trong đoàn phim sẽ hiểu rõ hơn công việc, như Kurosawa nói: "Để giải thích với các trợ lý, diễn viên, một hình vẽ tốt còn rõ ràng hơn một bài diễn văn dài". Nguyên tắc này cũng được Kurosawa tích cực áp dụng cho bộ phim Ran. Khi công chiếu lần đầu, Kaghemusha không hề thành công, thậm chí có người bỏ ra khỏi phòng chiếu, chỉ đến khi nó đoạt giải Cành cọ Vàng, người ta mới ùn ùn kéo đến, và Kaghemusha trở thành một trong những bộ phim có doanh thu cao nhất Nhật Bản.
Khi quay siêu phẩm Ran, hoàng đế đã 75 tuổi, và báo chí Pháp đã nói về hiện tượng này: "Từ khắp nơi trên thế giới, những người yêu thích điện ảnh loan truyền nhau tin tức: phim Ran đã bắt đầu quay. Hiện nay có 300 phim đang ở giai đoạn quay, nhưng chỉ có một tin đồn, một sự chú ý, một niềm vui..." Quả là chỉ có hoàng đế Kurosawa mới có thể làm được điều ấy.
Một trong những bộ phim cuối cùng của cuộc đời ông Những giấc mơ (1990) tiếp tục có sự góp sức của những người bạn, cũng là những người rất hâm mộ ông: Martin Scorsese đóng vai danh họa Van gogh, George Lucas thực hiện những hiệu quả đặc biệt, còn Steven Spielberg thì làm sản xuất.
Nguồn:yxine.comHãy tìm em bất cứ khi nào anh thèm thuốc
-
19-12-2008, 12:06 PM #5
- Tham gia ngày
- Jan 2008
- Địa chỉ
- Trong làn khói thuốc..
- Bài gởi
- 4,029
- Blog Entries
- 8
Một vài bức ảnh về Akira Kurosawa



Kurosawa đang chỉ đạo diễn xuất trong Ran
Wallpaper
http://i300.photobucket.com/albums/n...akirakuros.jpg
http://i300.photobucket.com/albums/n...akirakuros.jpg
http://i300.photobucket.com/albums/n...akira_kuro.jpg
*Tổng hợp*Hãy tìm em bất cứ khi nào anh thèm thuốc
-
07-06-2009, 12:31 PM #6
- Tham gia ngày
- Dec 2007
- Địa chỉ
- Mảnh trăng treo trên sa mạc
- Bài gởi
- 6,506
- Blog Entries
- 49
Các bộ phim và đạo diễn xuất sắc nhất Châu Á
Source : theyshootpictures.com
Reported by : heobeo@dienanh.net
Năm 2008 vừa qua, dựa vào đánh giá từ 1825 nhà phê bình và đạo diễn phim nổi tiếng trên khắp thế giới, trang theyshootpictures.com đã phân tích và bầu chọn ra 1000 phim xuất sắc nhất của nhân loại từ trước cho đến nay; và dựa vào số thành tích cũng như giá trị của các tác phẩm, những đóng góp về mặt đột phá, phong cách để bầu chọn tiếp ra danh sách 100 đạo diễn xuất sắc nhất của thế giới. Châu Á, vốn là khu vực có tầm vóc điện ảnh không quá lớn so với nền điện ảnh đồ sộ lâu đời của châu Âu và Mỹ, cũng góp mặt vào bảng danh sách với 79 tác phẩm và được vinh danh với 7 tên tuổi đạo diễn – 7 tượng đài sáng tạo của nền điện ảnh Á châu.
Bảng danh sách “1000 phim xuất sắc nhất” được chiếm lĩnh hầu bởi hết các tác phẩm đến từ châu Âu – cái nôi của nghệ thuật điện ảnh và Hollywood. Tuy vậy, nền điện ảnh Nhật Bản cũng khẳng định không hề kém cạnh gì nền điện ảnh của các quốc gia khác khi có đến 41 phim Nhật được lọt vào top 1000, một lần nữa lại càng củng cố vị trí đỉnh cao cho “người khổng lồ” trên phim đàn châu Á. Đa số các tác phẩm này đều là của các tượng đài điện ảnh trứ danh của Nhật như Akira Kurosawa, Yatsujiro Ozu, Kenji Mizoguchi … Các tác phẩm được đánh giá cao còn lại cũng đều xuất phát từ các nền điện ảnh phát triển trong khu vực như sau : Ấn Độ 9 phim; Đài Loan và Iran mỗi nước 7 phim; 1 phim hợp tác giữa Trung Quốc – Đài Loan – Mỹ; 1 phim hợp tác giữa Trung Quốc - Hong Kong; Trung Quốc và Hong Kong mỗi bên có 6 phim riêng và Hàn Quốc 1 phim.
Thứ hạng của các phim châu Á trong top 1000 phim vĩ đại nhất :
09. The Seven Samurai (1954) của đạo diễn Akira Kurosawa – Nhật
10. Tokyo Story (1953) của đạo diễn Yatsujiro Ozu – Nhật
19. Rashomon (1950) của đạo diễn Akira Kurosawa – Nhật
54. Ugetsu monogatari (1953) của Kenji Mizoguchi – Nhật
59. Pather Panchali (1955) của đạo diễn Satyajit Ray - Ấn Độ
81. Ikiru (1952) của đạo diễn Akira Kurosawa – Nhật
88. Sansho the Bailiff (1954) của đạo diễn Kenji Mizoguchi – Nhật
121. Ran (1985) của đạo diễn Akira Kurosawa – Nhật
165. The World of Apu (1959) của Satyajit Ray - Ấn Độ
190. Late Spring (1949) của đạo diễn Yatsujiro Ozu – Nhật
191. Close-Up (1989) của đạo diễn Abbas Kiarostami – Iran
192. The Music Room (1958) của đạo diễn Satyajit Ray - Ấn Độ
227. Throne of Blood (1957) của đạo diễn Akira Kurosawa – Nhật
228. The Story of the Late Chrysanthemums (1939) của Kenji Mizoguchi – Nhật
257. In the Realm of the Senses (1976) của Nagisa Oshima – Nhật
258. The Life of Oharu (1952) của đạo diễn Kenji Mizoguchi – Nhật
259. Floating Clouds (1955) của đạo diễn Mikio Naruse – Nhật
287. The Time to Live and The Time to Die (1985) của Hầu Hiếu Hiền – Đài Loan
289. Aparajito (1956) của đạo diễn Satyajit Ray - Ấn Độ
305. A City of Sadness (1989) của đạo diễn Hầu Hiếu Hiền – Đài Loan
310. High and Low (1963) của đạo diễn Akira Kurosawa – Nhật
324. Charulata (1964) của đạo diễn Satyajit Ray - Ấn Độ
328. Chungking Express (1994) của đạo diễn Vương Gia Vệ - Hong Kong
344. In The Mood for Love (2000) của đạo diễn Vương Gia Vệ - Hong Kong
361. Pyaasa (1957) của đạo diễn Guru Dutt - Ấn Độ
363. Yojimbo (1961) của đạo diễn Akira Kurosawa – Nhật
394. My Neighbour Totoro (1988) của Hayao Miyazaki – Nhật
396. An Autumn Afternoon (1962) của Yatsujiro Ozu – Nhật
400. The Cloud-Capped Star (1960) của đạo diễn Ritwik Ghatak - Ấn Độ
410. Raise the Red Lantern (1991) của đạo diễn Trương Nghệ Mưu – Trung Quốc
429. I Was Born, But … (1932) của đạo diễn Yatsujiro Ozu – Nhật
451. Dersu Uzala (1975) của đạo diễn Akira Kurosawa – Nhật
468. A Touch of Zen (1968) của đạo diễn King Hu – Đài Loan
480. Spring in a Small Town (1948) của đạo diễn Fei Mu – Trung Quốc
500. And Life Goes On (1992) của Abbas Kiarostami – Iran
508. The Killer (1989) của đạo diễn Ngô Vũ Sâm – Hong Kong
520. A Brighter Summer Day (1991) của Edward Yang – Đài Loan
534. Through the Olive Trees (1994) của Abbas Kiarostami – Iran
547. Kagemusha (1980) của đạo diễn Akira Kurosawa – Nhật
551. Farewell My Concubine (1993) của Trần Khải Ca – Hong Kong, Trung Quốc
595. Anatahan (1953) của đạo diễn Josef von Sternberg – Nhật
597. Yi yi (2000) của đạo diễn Edward Yang – Đài Loan, Nhật
605. The Puppetmaster (1993) của đạo diễn Hầu Hiếu Hiền – Đài Loan
608. Hana-Bi (1997) của đạo diễn Takeshi Kitano – Nhật
611. A Taste of Cherry (1997) của đạo diễn Abbas Kiarostami – Iran
617. Princess Yang Kwei Fei (1955) của Kenji Mizoguchi – Nhật, Hong Kong
633. Kaagaz Ke Phool (1959) của đạo diễn Guru Dutt - Ấn Độ
642. Yellow Earth (1984) của đạo diễn Trần Khải Ca – Trung Quốc
650. The Hidden Fortress (1958) của Akira Kurosawa – Nhật
655. The 47 Ronin (1941) của đạo diễn Kenji Mizoguchi – Nhật
657. An Actor’s Revenge (1962) của Kon Ichikawa – Nhật
659. Spirited Away (2001) của đạo diễn Hayao Miyazaki – Nhật
670. Pakeezah (1972) của đạo diễn Kamal Amrohi - Ấn Độ
681. Flowers of Shanghai (1981) của đạo diễn Hầu Hiếu Hiền – Đài Loan
702. Red Sorghum (1987) của đạo diễn Trương Nghệ Mưu – Trung Quốc
703. Red Beard (1965) của đạo diễn Akira Kurosawa – Nhật
717. Branded to Kill (1966) của đạo diễn Seijun Suzuki – Nhật
735. Ju Dou (1990) của đạo diễn Trương Nghệ Mưu – Trung Quốc
754. Early Summer (1951) của đạo diễn Yatsujiro Ozu – Nhật
770. The Wind Will Carry Us (1999) của Abbas Kiarostami – Iran
782. Woman in the Dunes (1964) của đạo diễn Hiroshi Teshigahara – Nhật
794. Mother India (1957) của đạo diễn Mehboob Khan - Ấn Độ
808. Early Autumn (1961) của đạo diễn Yatsujiro Ozu – Nhật
816. Old Boy (2003) của đạo diễn Park Chan-wook – Hàn Quốc
818. Viva L’Amour (1994) của đạo diễn Thái Minh Lượng – Đài Loan
822. Crouching Tiger, Hidden Dragon (2000) của Lý An – Trung Quốc, Đài Loan, Mỹ
834. Happy Together (1997) của đạo diễn Vương Gia Vệ - Hong Kong
850. Utamaro and His Five Women (1946) của Kenji Mizoguchi – Nhật
851. Ballad of Narayama (1983) của đạo diễn Shohei Imamura – Nhật
856. Days of Being Wild (1990) của đạo diễn Vương Gia Vệ - Hong Kong
877. Harakiri (1962) của đạo diễn Masaki Kobayashi – Nhật
886. Fallen Angels (1995) của đạo diễn Vương Gia Vệ - Hong Kong
892. Kwaidan (1964) của đạo diễn Masaki Kobayashi – Nhật
905. Shin heike monogatari (1955) của đạo diễn Kenji Mizoguchi – Nhật
915. King of the Children (1987) của đạo diễn Trần Khải Ca – Trung Quốc
916. Late Autumn (1960) của đạo diễn Yatsujiro Ozu – Nhật
969. Chikamatsu monogatari (1954) của đạo diễn Kenji Mizoguchi – Nhật
999. My Love Has Been Burning (1949) của Kenji Mizoguchi – Nhật.
Trong Top 100 đạo diễn xuất sắc nhất có 7 gương mặt tiêu biểu đại diện cho châu Á :
Nhật Bản : Dẫn đầu là “Vị hoàng đế” phim châu Á - Akira Kurosawa xếp hạng 7, với đóng góp 11 bộ phim trong top 1000 phim. “Vị thiền sư của điện ảnh Nhật” Yatsujiro Ozu xếp hạng 19 với đóng góp 7 phim và một phong cách sáng tạo điện ảnh độc nhất vô nhị của chính ông. Đạo diễn trứ danh Kenji Mizoguchi xếp hạng 24 với đóng góp cũng không kém phần quan trọng là 10 phim trong top 1000 phim.



Ấn Độ : Satyajit Ray – một trong những tượng đài bất hủ muôn đời không chỉ của riêng điện ảnh Ấn Độ mà còn của thế giới – được xếp hạng 35 với đóng góp 6 tác phẩm.

Iran : Abbas Kiarostami – nhà đạo diễn số 1 của điện ảnh Iran xếp vị trí thứ 71, với 6 tác phẩm xuất sắc trong top phim.

Nền điện ảnh Hoa ngữ : nổi lên 2 tên tuổi vốn từ lâu đã được xem là những thiên tài của điện ảnh châu Á : Vương Gia Vệ (Wong Kar Wai) của Hong Kong và Hầu Hiếu Hiền (Hou Hsiao Hsien) của Đài Loan. Với 5 phim đều lọt vào top 1000 phim xuất sắc nhất và phong cách sáng tạo không trùng lẫn, Vương Gia Vệ đã trở thành nhà đạo diễn Hoa ngữ được đánh giá cao nhất, xếp thứ 80 trong top 100 đạo diễn. Hầu Hiếu Hiền – biểu tượng lớn của điện ảnh Đài Loan – xếp hạng 85 với đóng góp 4 bộ phim tuyệt vời của ông.


Điều đáng chú ý là Trương Nghệ Mưu (Zhang Yimou) và Trần Khải Ca (Chen Kaige) – 2 nhà đạo diễn vốn cũng rất nổi tiếng của Trung Quốc – lại không lọt được vào danh sách vinh danh 100 người.thay đổi nội dung bởi: heobeo, 04-09-2009 lúc 06:15 PM
Thread Information
Users Browsing this Thread
There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)










Đánh Dấu